Giá vàng trong nước sáng 25/6 ghi nhận xu hướng giảm đồng loạt tại hầu hết doanh nghiệp kinh doanh lớn. Vàng miếng SJC và vàng nữ trang tiếp tục điều chỉnh giảm ở cả hai chiều mua vào – bán ra, phản ánh áp lực từ đà suy yếu của thị trường chung.
Tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) chi nhánh TP HCM, giá vàng miếng SJC được niêm yết ở mức 143,2 triệu đồng/lượng mua vào và 146,2 triệu đồng/lượng bán ra, giảm 800.000 đồng/lượng so với phiên trước.
Các thương hiệu lớn như DOJI, Phú Quý và PNJ cũng cùng mặt bằng điều chỉnh, khi giá vàng miếng phổ biến về mức 143 triệu đồng/lượng mua vào và 146 triệu đồng/lượng bán ra, với mức giảm dao động từ 800.000 đến 1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều.
Ở phân khúc vàng nữ trang 24K , 24K (9999) ghi nhận mức điều chỉnh giảm rõ rệt, hiện giao dịch quanh 141,1 triệu đồng/lượng mua vào và 144,6 triệu đồng/lượng bán ra, thấp hơn khoảng 800.000 đồng/lượng so với phiên liền trước.
Cùng xu hướng giảm, vàng 18K giảm về mức 99,11 – 108,61 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), giảm khoảng 600.000 đồng/lượng.
Cùng lúc đó, vàng 14K cũng điều chỉnh nhẹ, xuống còn 74,96 – 84,46 triệu đồng/lượng, giảm khoảng 460.000 đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch.
|
Giá vàng |
25/06/2026 |
Thay đổi (nghìn đồng/lượng) |
|||
|
Mua vào (triệu đồng/lượng) |
Bán ra (triệu đồng/lượng) |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Vàng miếng |
SJC chi nhánh TP HCM |
143,20 |
146,20 |
-800 |
-800 |
|
Tập đoàn Doji |
143,00 |
146,00 |
-1.000 |
-1.000 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
143,00 |
146,00 |
-1.000 |
-1.000 |
|
|
PNJ chi nhánh Hà Nội |
143,00 |
146,00 |
-1.000 |
-1.000 |
|
|
Vàng nữ trang |
99,99% (vàng 24K) |
141,10 |
144,60 |
-800 |
-800 |
|
75% (vàng 18K) |
99,11 |
108,61 |
-600 |
-600 |
|
|
58,3% (vàng 14K) |
74,96 |
84,46 |
-460 |
-460 |
|
Vàng miếng SJC tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 9h00 (Tổng hợp: Gia Ngọc)
Số liệu: Wichart, SJC (Gia Ngọc tổng hợp)
Giá vàng nhẫn tròn trơn trong nước sáng 25/6 tiếp tục ghi nhận xu hướng điều chỉnh giảm tại hầu hết các thương hiệu lớn. Mức giảm phổ biến dao động từ 800.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra, kéo mặt bằng giá lùi nhẹ so với phiên trước.
Tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), giá vàng nhẫn được niêm yết ở mức 143,1 triệu đồng/lượng mua vào và 146,1 triệu đồng/lượng bán ra, giảm 800.000 đồng/lượng so với phiên trước.
Bên cạnh đó, tập đoàn DOJI điều chỉnh về mức 143 triệu đồng/lượng mua vào và 146 triệu đồng/lượng bán ra, tương ứng mức giảm 1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch.
Tập đoàn Phú Quý và hệ thống PNJ cùng ghi nhận mức giảm 1 triệu đồng/lượng so với phiên liền trước. Sau điều chỉnh, giá vàng nhẫn tại hai đơn vị này đồng loạt về mức 143 triệu đồng/lượng mua vào và 146 triệu đồng/lượng bán ra.
Giá vàng nhẫn hôm nay tiếp tục vận động trong xu hướng giảm nhẹ nhưng đồng đều giữa các thương hiệu. Mặt bằng giá hiện phổ biến quanh vùng 143 – 143,1 triệu đồng/lượng mua vào và 146 – 146,1 triệu đồng/lượng bán ra.
|
Giá vàng nhẫn tròn trơn |
25/06/2026 |
Thay đổi (nghìn đồng/lượng) |
|||
|
Mua vào (triệu đồng/lượng) |
Bán ra (triệu đồng/lượng) |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Vàng nhẫn |
SJC |
143,10 |
146,10 |
-800 |
-800 |
|
Tập đoàn Doji |
143,00 |
146,00 |
-1.000 |
-1.000 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
143,00 |
146,00 |
-1.000 |
-1.000 |
|
|
PNJ |
143,00 |
146,00 |
-1.000 |
-1.000 |
|
Vàng nhẫn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 9h00 (Tổng hợp: Gia Ngọc)
Số liệu: Wichart, SJC (Gia Ngọc tổng hợp)
Giá vàng thế giới trong phiên giao dịch ngày 24/6 tiếp tục lao dốc mạnh, rơi xuống mức thấp nhất hơn 7 tháng và chính thức xuyên thủng ngưỡng tâm lý 4.000 USD/ounce, trong bối cảnh đồng USD tăng giá và kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục duy trì chính sách thắt chặt ngày càng gia tăng.
Kết phiên, giá vàng giao ngay giảm 3,3% xuống 3.974 USD/ounce, có thời điểm chạm mức thấp nhất kể từ tháng 11/2025. Giá vàng kỳ hạn tháng 8 cũng giảm 3,4%, còn 4.009 USD/ounce.
Sang phiên sáng 25/6, thị trường có nhịp hồi nhẹ. Lúc 6h50 theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay tăng 0,27% lên 4.009 USD/ounce, trong khi hợp đồng vàng tháng 8 tăng 0,44% lên 4.026 USD/ounce, theo số liệu từ Kitco.
Ảnh: Kitco
Đà tăng của đồng bạc xanh tiếp tục gây sức ép lên kim loại quý, khiến vàng trở nên đắt đỏ hơn đối với nhà đầu tư nắm giữ các đồng tiền khác. Song song đó, thị trường gia tăng đặt cược vào khả năng Fed tiếp tục nâng lãi suất sau những tín hiệu mang tính cứng rắn tại cuộc họp chính sách gần đây.
Bên cạnh đó, lo ngại về áp lực lạm phát kéo dài từ căng thẳng liên quan Iran cũng góp phần củng cố kỳ vọng Fed duy trì lập trường tiền tệ thắt chặt.
Nhà giao dịch kim loại độc lập Tai Wong nhận định thị trường hiện đã định giá khả năng Fed tăng lãi suất ngay trong tháng 9, trong bối cảnh USD leo lên mức cao nhất trong 13 tháng và kỳ vọng lạm phát hạ nhiệt. Theo ông, vàng đang hình thành vùng hỗ trợ quan trọng dưới mốc 3.900 USD/ounce, trong khi lực mua từ các ngân hàng trung ương vẫn duy trì.
Ông cũng cho rằng khả năng xảy ra cú sụt giảm mạnh là không lớn, nhưng thị trường nhiều khả năng sẽ bước vào giai đoạn tích lũy kéo dài khi vàng không còn giữ vai trò tài sản ưu tiên như trước.
Thông thường, kim loại quý chịu áp lực trong môi trường lãi suất cao do không mang lại lợi suất như các tài sản tài chính khác.
Tính từ đỉnh lịch sử 5.594,82 USD/ounce thiết lập vào cuối tháng 1, giá vàng hiện đã mất hơn 1.600 USD/ounce.
Trong báo cáo mới nhất, ING đã điều chỉnh giảm dự báo giá vàng, hạ mức kỳ vọng trung bình xuống 4.300 USD/ounce trong quý III/2026 và 4.600 USD/ounce trong quý IV/2026, thấp hơn đáng kể so với các dự báo trước đó.
Thị trường cũng đang chờ dữ liệu chỉ số chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE) của Mỹ, thước đo lạm phát quan trọng đối với Fed, dự kiến công bố vào thứ Năm.
Chuyên gia Lukman Otunuga tại FXTM nhận định bất kỳ tín hiệu cứng rắn nào từ Fed hoặc dữ liệu kinh tế ủng hộ việc thắt chặt chính sách tiền tệ đều có thể khiến vàng đối mặt thêm rủi ro giảm giá.
Ở các kim loại quý khác, giá bạc giao ngay giảm mạnh 9,1% xuống 56,41 USD/ounce, chạm mức thấp nhất kể từ tháng 11/2025. Standard Chartered cho biết dòng vốn rút khỏi các quỹ ETF đang khiến bạc biến động mạnh, dù triển vọng dài hạn vẫn được hỗ trợ bởi tình trạng thiếu hụt nguồn cung.
Trong khi đó, giá bạch kim giảm 5,5% xuống 1.561 USD/ounce và palladium mất 6,8% còn 1.154 USD/ounce.