Khảo sát mới nhất cho thấy, phạm vi lãi suất huy động vốn được triển khai tại các ngân hàng thương mại trong nước dao động trong khung 3,7% - 9%/năm cho kỳ hạn 12 tháng dành cho khách hàng cá nhân gửi tại quầy.
Theo bảng so sánh lãi suất ngân hàng, PVcomBank đang là nơi áp dụng mức lãi suất tiền gửi cao nhất cho kỳ hạn 1 năm với mức 9%/năm, cao vượt bậc so với các ngân hàng khác. Tuy nhiên, điều kiện này chỉ áp dụng tại quầy cho số dư tiền gửi mở mới từ 2.000 tỷ đồng trở lên ở PVcomBank. Nếu dưới mốc này, lãi suất nhận về cho cùng kỳ hạn là 5,8%/năm.
HDBank xếp vị trí thứ hai trong bảng xếp hạng khi đưa ra mức lãi suất hấp dẫn cho cùng kỳ hạn với 7,7%/năm, áp dụng cho các khoản tiết kiệm từ 500 tỷ đồng trở lên. Nếu gửi mức thấp hơn, lãi suất đưa ra là 5,7%/năm.
Tại mức 6,5%/năm nhiều ngân hàng đang cùng triển khai mức lãi suất này là VIB (trên 10 triệu đồng), Vikki và OCB.
Trong khi đó, BVBank đưa ra mức 6,45%/năm và trở thành ngân hàng duy nhất triển khai mốc lãi suất này. Còn VCBNeo áp dụng lãi suất kỳ hạn 1 năm là 6,4%/năm, cao hơn mức 6,3%/năm của ABBank.
Tại mốc lãi suất 6,1%/năm, có hai ngân hàng cùng triển khai là NCB và VPBank. Tuy nhiên VPBank kèm thêm hạn mức gửi trên 3 tỷ đồng. Nếu gửi dưới 3 tỷ đồng, lãi suất đang triển khai tại VPBank là 6%/năm.
Nhiều ngân hàng tư nhân đang niêm yết lãi suất huy động vốn tháng 1/2026 là dưới 6%/năm là SHB, LPBank, Kienlongbank, MB, VietBank, Nam A Bank, Techcombank, MSB.
Trong khi đó, 4 ngân hàng có vốn nhà nước là Vietcombank, VietinBank, BIDV và Agribank đều cùng triển khai lãi suất tiết kiệm là 5,2%/năm cho kỳ hạn 12 tháng.
|
Ngân hàng |
12 tháng |
|
PVcomBank |
9,00 |
|
HDBank |
7,70 |
|
Bắc Á (> 1 tỷ) |
7,05 |
|
Bắc Á (< 1 tỷ) |
6,85 |
|
VIB (>10 tr) |
6,50 |
|
Vikki |
6,50 |
|
OCB |
6,50 |
|
BVBank |
6,45 |
|
VCBNeo |
6,40 |
|
ABBank |
6,30 |
|
NCB |
6,10 |
|
VPBank (3-10 tỷ) |
6,10 |
|
VPBank (10 - 50 tỷ) |
6,10 |
|
VPBank (> 50 tỷ) |
6,10 |
|
VPBank (<1 tỷ) |
6,00 |
|
VPBank (1-3 tỷ) |
6,00 |
|
SHB (> 2 tỷ) |
5,70 |
|
SHB (< 2 tỷ) |
5,60 |
|
LPBank |
5,50 |
|
Kienlongbank |
5,50 |
|
MB (> 1 tỷ) |
5,50 |
|
VietBank |
5,50 |
|
Nam A Bank |
5,50 |
|
MB (<1 tỷ) |
5,40 |
|
Techcombank |
5,35 |
|
MSB |
5,30 |
|
Agribank |
5,20 |
|
VietinBank |
5,20 |
|
Vietcombank |
5,20 |
|
BIDV |
5,20 |
|
ACB |
5,20 |
|
Eximbank |
4,90 |
|
SCB |
3,70 |
Nguồn: PV tổng hợp.
Chứng khoán KBSV dự báo xu hướng tăng lãi suất huy động sẽ tiếp diễn trong năm 2026, đặc biệt là giai đoạn nửa đầu năm, với mặt bằng lãi suất tái định ở mức cao hơn khoảng 0,5 - 1 điểm % so với cuối năm 2025, chủ yếu để cải thiện tăng trưởng tiền gửi huy động, thu hẹp chênh lệch với tăng trưởng tín dụng qua đó giúp hệ thống ngân hàng phát triển lành mạnh, cân bằng và ổn định.
Công ty chứng khoán cũng cho rằng áp lực thanh khoản sẽ tiếp tục hiện hữu đối với hệ thống ngân hàng trong giai đoạn đầu năm 2026, do: Chênh lệch tín dụng/ huy động tương đối lớn trong năm 2025 khi tính đến cuối năm 2025, mức chênh lệch khoảng 4%.
Chênh lệch dự kiến vẫn ở mức cao trong nửa đầu năm dù có thể thu hẹp nhẹ khi áp lực giải ngân tín dụng đầu năm là không lớn, đồng thời mặt bằng lãi suất tăng cũng giúp thu hút thêm tiền gửi huy động.
Trong nửa sau năm 2026, KBSV kỳ vọng áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng sẽ dần hạ nhiệt, nhờ một số yếu tố hỗ trợ đồng thời, bao gồm mặt bằng lãi suất huy động tăng trong nửa đầu năm sẽ giúp cải thiện rõ nét tốc độ tăng trưởng tiền gửi, qua đó củng cố nguồn vốn đầu vào cho hệ thống; hoạt động giải ngân đầu tư công được đẩy mạnh sẽ góp phần bổ sung dòng tiền quay trở lại khu vực ngân hàng, hỗ trợ thanh khoản.
Áp lực tăng trưởng tín dụng được dự báo giảm so với năm 2025 khi Ngân hàng Nhà nước định hướng mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 ở mức khoảng 15%, song song với việc tiếp tục kiểm soát chặt dòng tín dụng vào các lĩnh vực mang tính đầu cơ, đặc biệt là bất động sản. Nhờ đó, áp lực gia tăng lãi suất huy động được kỳ vọng sẽ dịu lại trong giai đoạn nửa cuối năm 2026.
KBSV dự báo nhóm ngân hàng quốc doanh lãi suất huy động có thể tăng 0,5 - 1 điểm % từ mức hiện tại. Nhóm Ngân hàng Thương mại còn lại sẽ có sự phân hoá và mức tăng lớn hơn (0,7 - 1,5 điểm %). Những ngân hàng quy mô nhỏ, không có lợi thế về CASA sẽ chịu áp lực lớn nhất trong việc tăng lãi suất huy động.