14/08/2026 07:19

Kỷ nguyên tiền rẻ khép lại: Vì sao thời lãi suất thấp khó quay trở lại trong ít nhất 3 năm tới?

Thời kỳ tiền rẻ của Việt Nam đã đi qua và khó có thể quay trở lại do áp lực từ nhu cầu vốn khổng lồ, lạm phát ở mức cao và sự chênh lệch lớn giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động. Mặt bằng lãi suất có thể sẽ duy trì như mức hiện tại đến hết năm 2027 hoặc sang cả năm 2028.

Trong lĩnh vực tài chính và kinh tế, chúng ta thường nghe đến một khái niệm quan trọng - "tiền rẻ" (Cheap Money) - đề cập đến việc cung cấp tiền và tín dụng với lãi suất thấp hoặc chính sách lãi suất thấp do các ngân hàng trung ương hoặc chính phủ thiết lập.

Đây là trạng thái nền kinh tế được cung ứng dòng vốn với chi phí thấp thông qua chính sách nới lỏng của Ngân hàng Trung ương — từng là động lực chính thúc đẩy đầu tư và tiêu dùng.

Lãi suất thấp là một phần quan trọng của khái niệm "Tiền rẻ." Khi ngân hàng trung ương giảm lãi suất chính sách, các ngân hàng thương mại sẽ thường giảm lãi suất cho vay cho cá nhân và doanh nghiệp. Điều này tạo ra môi trường thuận lợi cho mọi người vay tiền với chi phí lãi suất thấp hơn, làm cho việc vay trở nên hấp dẫn và dễ dàng hơn.

Tại Việt Nam, giai đoạn này kéo dài từ năm 2012 đến 2021, nhờ sự cộng hưởng của dòng vốn FDI mạnh mẽ và sự dồi dào của nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ Kho bạc Nhà nước (KBNN) tại hệ thống ngân hàng thương mại.

"Chu kỳ tiền rẻ kéo dài từ những năm 2012 - 2013 cho đến tận năm 2021 đã đi qua, ông Trần Ngọc Báu, Nhà sáng lập và Giám đốc điều hành Công ty Dữ liệu Kinh tế Tài chính WiGroup, nhận định tại talkshow "Data Talk|Macro Insight: Dòng tiền cuối năm sẽ chảy vào đâu?", phát sóng ngày 9/8.

Theo ông Báu, cơ sở của chu kỳ tiền rẻ đó đến từ hai yếu tố: Một là dòng vốn ngoại đổ vào rất nhiều, việc trung hòa lượng USD dư thừa đó đã đẩy một lượng tiền mặt lớn ra thị trường.

Hai là trong một chu kỳ dài, Việt Nam cũng đã đẩy được lượng tiền gửi của KBNN từ hệ thống Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sang hệ thống ngân hàng thương mại. Hiện tại, tổng số dư mà Kho bạc Nhà nước đang gửi tại các Ngân hàng thương mại lên tới hơn 700.000 tỷ đồng. 

Trong vòng 2 - 3 năm, lượng tiền nhàn rỗi từ Kho bạc Nhà nước gửi tại các ngân hàng thương mại đã tăng từ 200.000 tỷ đồng lên tới 700.000 tỷ đồng đã tạo nên dư địa để giữ mặt bằng lãi suất ở mức thấp, thời kỳ "tiền rẻ" bùng nổ.

Ba rào cản khiến 'tiền rẻ' khó quay lại

Ở thời điểm hiện tại, thời kỳ tiền rẻ của Việt Nam được nhận định là đã đi qua và khó có thể quay trở lại. Có ba nguyên nhân cốt lõi khiến mặt bằng lãi suất khó có thể hạ nhiệt trong ngắn và trung hạn.

Đầu tiên khiến là để tăng trưởng hai con số, nền kinh tế cần một số vốn khổng lồ. Theo ước tính của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Con số này gấp hơn hai lần giai đoạn 2021 - 2025 (khoảng 17,4 triệu tỷ đồng).

Như vậy vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội phải tăng trưởng bình quân 16%/năm, tỷ lệ đầu tư/GDP bình quân cũng phải tăng từ khoảng 33% giai đoạn 2021 - 2025 lên khoảng 40% giai đoạn 2026 - 2030.

Việc đẩy tỷ lệ đầu tư/GDP lên mức 40% sẽ tạo ra "cơn khát vốn" thường trực, gây áp lực trực tiếp lên lãi suất dài hạn. Điều này khiến mặt bằng lãi suất chịu áp lực tăng thay vì giảm.

Nguồn: GSO - Đồ hoạ: Vân Miên.

Nguyên nhân thứ hai là áp lực từ lạm phát. Không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới, các nền kinh tế lớn phải đối mặt với áp lực lạm phát dài hạn, các ngân hàng trung ương lớn cũng buộc phải duy trì mặt bằng lãi suất cao hơn trước để kiểm soát giá cả.

Những biến động địa chính trị, xung đột Trung Đông khiến giá dầu tăng cao, gây áp lực lạm phát đến nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.

Từ mức nền thấp 2 - 3% những năm trước, lạm phát hiện đối mặt với rủi ro vượt ngưỡng 4,5%. Áp lực từ giá dầu thế giới và xung đột địa chính trị buộc NHNN phải duy trì chính sách tiền tệ thận trọng để ổn định tỷ giá và kiềm chế lạm phát kỳ vọng.

Để lãi suất cho vay giảm bền vững, cần đồng thời thấy chi phí vốn kỳ hạn hạ xuống, lạm phát cơ bản giảm và áp lực tỷ giá dịu lại mà những điều này khó xảy ra trong ngắn hạn.

Tính đến cuối tháng 6/2026, huy động thấp hơn cho vay khoảng 2,7 triệu tỷ đồng. (Nguồn: Mirae Asset).

Thứ ba là áp lực thanh khoản hệ thống. Theo số liệu mới nhất từ NHNN, đến cuối tháng 6,  tiền gửi dân cư đạt 11,07 triệu tỷ đồng, tăng 7,1% so với cuối năm ngoái, tiền gửi tổ chức đạt 6,37 triệu tỷ đồng, tăng 3,09% so với đầu năm. Trước đó, tiền gửi của tổ chức ghi nhận tăng trưởng âm trong 5 tháng đầu năm.

Tổng phương tiện thanh toán đạt 20,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,99% so với cuối năm trước, trong khi dư nợ tín dụng tính đến hết tháng 6 là 20,15 triệu tỷ đồng, tăng 8,37% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tín dụng vẫn tăng mạnh trong khi huy động chậm nhịp hơn, nguồn vốn vẫn có sẵn nhưng chưa rẻ. Chênh lệch tín dụng - huy động VND hiện đang ở mức hơn 2 triệu tỷ đồng và việc dư nợ tín dụng tăng gấp đôi huy động khiến "bài toán" hạ lãi suất khó mà thực hiện. 

Mặt bằng lãi suất cao có thể duy trì đến năm 2028

Trong bối cảnh áp lực ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát rất thách thức, ngành ngân hàng đồng thời phải thực hiện nhiều mục tiêu đan xen, có tính chất đánh đổi nhau.

Việc vừa điều hành vừa đáp ứng nhu cầu vốn hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, vừa kiểm soát lạm phát, vừa giảm lãi suất đồng thời ổn định tỷ giá, nhất là trong điều kiện nhu cầu sử dụng vốn cao hơn khả năng huy động vốn lớn tiềm ẩn rủi ro, gây ra các hệ lụy về thanh khoản, lãi suất,...

Báo cáo từ SSI Reearch chỉ cho rằng dù nguồn vốn trên thị trường không quá thiếu nhưng "không còn rẻ". Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 tháng duy trì quanh mức 7% là minh chứng cho sự cạnh tranh huy động vốn vẫn đang diễn ra gay gắt.

Chứng khoán Agriseco, dự báo mặt bằng lãi suất mới bởi có thể nó sẽ duy trì đến hết năm 2027, 2028. Phải đến sau năm 2028, khi các dự án đầu tư công đi vào giai đoạn thu hoạch và quyết toán, dòng tiền chảy ngược lại vào nền kinh tế thực, kinh tế tăng trưởng tốt thì lúc đó lãi suất mới có thể giảm dần.

Khoảng cách giữa tín dụng và huy động ngày càng nới rộng. Nguồn: WiData.

Theo ông Trần Ngọc Báu - CEO Wigroup, mặt bằng lãi suất của Việt Nam hiện ở mức cao do tính cấu trúc, hệ quả của một giai đoạn dài chứ không phải như năm 2022 là tác động của "cú giật" thanh khoản. Đây là sự thay đổi nội tại nên lãi suất sẽ tăng và duy trì ở mặt bằng như hiện nay.

"Dù vậy, mức lãi suất huy động tầm 7 - 8% hiện tại là đủ để cân bằng về mặt chính sách bởi nếu tăng trên 10%, NHNN bắt buộc phải can thiệp vì nó sẽ tạo ra sự đổ vỡ hệ thống không cần thiết. Cuộc đua lãi suất tàn phá kinh tế, kéo theo sự suy giảm kinh tế kéo dài nhiều năm. Do đó, không ai muốn lãi suất quá cao và quá lâu", ông Báu đánh giá.

Phân tích kỹ hơn về "bài toán" lãi suất, CEO Wigroup cho rằng có hai nguồn vốn có thể cung cấp cho thanh khoản của hệ thống giúp hạ nhiệt lãi suất là dòng vốn từ nước ngoài và lượng vốn từ KBNN.

Với dòng vốn nước ngoài cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, theo ông, trong vòng 1 - 2 năm tới mặc dù đỡ áp lực nhưng cũng chưa thể chảy vào Việt Nam.

Còn từ phía dòng vốn từ KBNN, mới đây Bộ Tài chính cũng đã có đề xuất nâng mức trần tiền nhàn rỗi từ KBNN được phép gửi vào ngân hàng thương mại, thay vì giới hạn trần 50% thì có thể được linh động ở mức cao hơn.

Tuy nhiên, để thực hiện được điều này lại liên quan đến nhiều bộ ngành như KBNN, Bộ Tài chính, NHNN nên sẽ cần thời gian, sau đó là cả thời gian để thẩm thấu chính sách vào thị trường.

Hạ An