Những điều từng bị coi là không tưởng giờ đang trở thành thực tại không hồi kết. Trước đây, giới buôn năng lượng luôn tin rằng: dù bị tấn công, Iran cũng sẽ không bao giờ đóng cửa Eo biển Hormuz - “cuống họng” hẹp nơi gần 1/5 lượng dầu thế giới lưu thông.
Họ cho rằng hành động đó chẳng khác nào tự sát kinh tế, làm phật lòng các lân bang vùng Vịnh và cắt đứt huyết mạch của chính mình. Họ cũng tin rằng nếu Iran phong tỏa, Mỹ sẽ nhanh chóng ra tay dẹp loạn.
Thế nhưng, hai tháng kể từ khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran bắt đầu, lưu lượng giao thông qua Hormuz vẫn gần như bằng không. Các nỗ lực ngoại giao đều đứt quãng và bế tắc. Viễn cảnh eo biển này bị đóng cửa vô thời hạn đã không còn là chuyện viễn tưởng.
Nhìn vào giá dầu, sự hoảng loạn có vẻ vẫn đang được kìm nén. Ngay cả sau đợt tăng mạnh gần đây, giá dầu Brent tương lai ở mức hơn 120 USD/thùng vẫn thấp hơn nhiều so với dự báo 150-200 USD mà các nhà phân tích đưa ra hồi tháng 3.
Tại hầu hết các quốc gia giàu có, cuộc sống thường nhật vẫn chưa bị đảo lộn đáng kể. Giá xăng và vé máy bay có tăng, nhưng dự báo tăng trưởng kinh tế chỉ bị điều chỉnh nhẹ. Thị trường chứng khoán vẫn neo ở mức cao kỷ lục. Bất chấp mọi nghịch lý, nền kinh tế thế giới dường như đang bình thản vượt qua cú sốc cung lớn nhất trong lịch sử thị trường dầu mỏ.
Nhưng thị trường luôn tìm điểm cân bằng. Câu hỏi chỉ là ở mức giá nào. Những người lạc quan viện dẫn năm 2022, khi phương Tây ngừng mua dầu Nga: giá dầu lúc đó đạt đỉnh 129 USD mà không gây ra suy thoái toàn cầu. Tuy nhiên, dầu Nga khi đó chỉ chiếm 3% nguồn cung thế giới và phần lớn được chuyển hướng sang châu Á.
Với Hormuz, mỗi ngày trôi qua, lượng dầu bị rút khỏi thị trường lớn gấp 5 lần con số đó. Ngay cả khi eo biển mở cửa trở lại vào ngày mai, thế giới đã mất đi khoảng 3% sản lượng hàng năm do sự chậm trễ tất yếu trong việc phục hồi xuất khẩu.
Gánh nặng điều chỉnh dồn hết lên vai kho dự trữ và cắt giảm nhu cầu. (Nguồn: Reuters).
Sự bình tĩnh của thị trường đang che đậy những con số đáng sợ hơn. Trong tháng 3 và tháng 4 năm ngoái, trung bình 18,3 triệu thùng dầu và các sản phẩm tinh chế đi qua eo biển này mỗi ngày. Trừ đi một lượng nhỏ vẫn lọt qua được và dầu được chuyển hướng qua hai đường ống khác, mức thâm hụt ròng vẫn nằm ở khoảng 13 triệu thùng/ngày.
Sau khi cộng trừ các yếu tố tăng trưởng cung ngoài vùng Vịnh, mức thiếu hụt ròng trong hai tháng qua là 12,3 triệu thùng/ngày - tương đương hơn 10% mức tiêu thụ toàn cầu.
Có ba cách để cân bằng thị trường: huy động công suất dự phòng, rút kho dự trữ hoặc để giá tăng cao nhằm bóp nghẹt nhu cầu.
Lựa chọn đầu tiên hoàn toàn bế tắc. Các nhà sản xuất dầu đá phiến của Mỹ không thể phản ứng đủ nhanh; việc tăng sản lượng mất từ 3-6 tháng và chỉ đem lại thêm tối đa 700.000 thùng/ngày. Nga về lý thuyết có thể bơm thêm 300.000 thùng/ngày, nhưng cơ sở hạ tầng năng lượng của họ đang bị máy bay không người lái Ukraine tấn công liên tục, khiến việc duy trì sản lượng hiện tại cũng là một thách thức.
Do đó, gánh nặng điều chỉnh dồn hết lên vai kho dự trữ và cắt giảm nhu cầu.
Giá tăng và tình trạng thiếu hụt nguồn cung đã bắt đầu kìm hãm tiêu dùng. Sự khan hiếm nhiên liệu thành phẩm, trầm trọng hơn bởi lệnh cấm xuất khẩu của Trung Quốc, đã đẩy mức chênh lệch giá giữa dầu thô và dầu diesel/nhiên liệu bay lên tới 50-80 USD/thùng (so với mức 15-20 USD trước chiến tranh).
Giá xăng tại các trụ bơm đã tăng gấp đôi ở Myanmar, tăng 52% ở Pakistan và 40% ở Nepal.
Các chuyên gia ước tính nhu cầu dầu thô đã thấp hơn dự báo khoảng 3-5 triệu thùng/ngày trong tháng 4. Điều này có nghĩa là thế giới đã phải rút kho dự trữ với tốc độ lên tới 8 triệu thùng/ngày để bù đắp thâm hụt.
Thế giới sẽ tiếp tục chịu đựng tình trạng thiếu hụt nguồn cung nghiêm trọng trong vài tháng tới. (Nguồn: Reuters).
May mắn thay, một lượng dầu kỷ lục đã được tích trữ trên biển trước khi chiến tranh nổ ra. Morgan Stanley ước tính “vùng đệm nổi” này đã cung cấp hơn 3 triệu thùng/ngày từ đầu tháng 3. Nhưng nguồn lực này không thể tồn tại mãi.
Việc xả kho dự trữ chiến lược (SPR) của các nước giàu cũng đã giúp duy trì nguồn cung, nhưng đang có dấu hiệu dừng lại. 32 thành viên IEA đã đồng ý bán 400 triệu thùng từ kho dự trữ khẩn cấp - đợt xả kho lớn nhất trong lịch sử.
Tuy nhiên, thông báo này được đưa ra khi họ kỳ vọng Hormuz sẽ sớm mở cửa. Giờ đây, khi dòng chảy vùng Vịnh có thể bị gián đoạn vô hạn, các chính phủ sẽ không muốn “đốt” sạch kho dự trữ quá nhanh.
Khoảng thâm hụt còn lại - gần 5 triệu thùng/ngày - đang được bù đắp từ các kho thương mại. Đây là một con số khổng lồ. Ngay cả khi nhu cầu dầu tăng vọt trong giai đoạn phục hồi hậu Covid, mức rút kho chưa bao giờ vượt quá 2,5 triệu thùng/ngày quá một tháng. Nếu Hormuz vẫn đóng cửa, các kho thương mại sẽ phải cung cấp 6-8 triệu thùng/ngày - một tốc độ không ai coi là bền vững.
Tình trạng thiếu hụt sẽ lan rộng khắp thế giới. Tại Đông Phi, những dòng người rồng rắn xếp hàng dài hàng cây số tại các trạm xăng đã trở thành cảnh tượng thường thấy.
Châu Á (ngoại trừ Trung Quốc có dự trữ dồi dào) là khu vực tiếp theo bị đe dọa. Lượng dầu thô dự trữ của họ đã giảm 13%. Các nhà máy lọc dầu châu Á đã phải cắt giảm 12% công suất do thiếu dầu thô vùng Vịnh. Indonesia, Pakistan và Philippines có lẽ chỉ còn 5-6 tuần nữa là cạn xăng. Australia cũng sắp rơi vào tình trạng tương tự với dầu diesel và nhiên liệu bay.
Châu Âu không thiếu dầu thô nhờ nhập khẩu từ Mỹ và Tây Phi, nhưng các nhà máy lọc dầu ở đây chủ yếu sản xuất xăng thay vì dầu diesel. Điều này khiến lục địa này phụ thuộc vào nhập khẩu diesel từ vùng Vịnh và Ấn Độ — những nguồn cung hiện đã khô cạn.
Để bù đắp, họ đang tăng cường nhập khẩu diesel từ Mỹ, khiến dự trữ tại Mỹ giảm 11% chỉ trong 5 tuần. Nếu dự trữ của Mỹ tiếp tục giảm, chính quyền Trump sẽ phải đối mặt với áp lực đình chỉ xuất khẩu để bảo vệ thị trường nội địa. IEA cảnh báo châu Âu có thể thiếu hụt nhiên liệu bay vào tháng 6.
Cú sốc dầu mỏ sẽ sớm gây ra những hậu quả hữu hình (Nguồn: Reuters).
Nếu không có một phép màu ngoại giao, cú sốc dầu mỏ sẽ sớm gây ra những hậu quả hữu hình hơn. Các chính phủ đang thực hiện các bước hành chính để đối phó: khuyến khích làm việc tại nhà, tuyên bố thêm ngày nghỉ lễ và hạn chế giờ mở cửa các cửa hàng. Sri Lanka đã áp dụng tuần làm việc 4 ngày. Myanmar chỉ cho phép tài xế mua xăng cách ngày. Campuchia thậm chí đã đóng cửa 1/3 số trạm xăng.
Ngay cả ở châu Âu, các chính phủ đang xem xét lại các đạo luật ban hành từ thập niên 1970 để can thiệp vào việc phân phối nhiên liệu, nhằm ngăn chặn hiệu ứng domino dẫn đến trống trơn kệ hàng siêu thị hoặc xe cấp cứu không thể hoạt động.
Ngay cả trong kịch bản lạc quan nhất là Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận mở cửa eo biển ngay lập tức, thị trường cũng cần thời gian dài để phục hồi. Eo biển cần được quét mìn; các công ty bảo hiểm và vận tải cần lấy lại niềm tin; tàu bè cần thời gian để đến vùng Vịnh nhận hàng.
Nói cách khác, thế giới sẽ tiếp tục chịu đựng tình trạng thiếu hụt nguồn cung nghiêm trọng trong vài tháng tới. Cú sốc năng lượng chắc chắn sẽ còn tồi tệ hơn trước khi nó có thể nguôi ngoai.
Tổng thống Mỹ Donald Trump bày tỏ mong đợi gặp mặt Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh, trong bối cảnh căng thẳng giữa hai nước gia tăng vì các vấn đề liên quan đến cuộc chiến ở Iran.
Mỹ thông báo đã đẩy lùi các cuộc tấn công của Iran và bắn hạ các xuồng vũ trang nhỏ của nước này trong lúc hỗ trợ tàu thuyền qua eo biển Hormuz.
Các chỉ số chính của chứng khoán Mỹ đồng loạt đi xuống trước những lo ngại về xung đột tại Trung Đông nóng trở lại.
Nhà kinh tế kỳ cựu Mohamed El-Erian cảnh báo nếu eo biển Hormuz không mở cửa trở lại trong 4 - 8 tuần, nền kinh tế thế giới cầm chắc sẽ rơi vào suy thoái.