19/08/2026 15:09

Ông Quản Trọng Thành: Cần truyền thông đúng về con số thanh khoản của hệ thống ngân hàng, để giảm áp lực cho lãi suất do những kỳ vọng tiêu cực

Câu chuyên về chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng - huy động là chủ đề nóng trong thời gian vừa qua và là nguyên nhân chính tạo nên cuộc đua lãi suất của các ngân hàng. Nguồn huy động từ tiền gửi của các ngân hàng dường như không đủ để cho vay ra và trên thực tế nền kinh tế có thiếu vốn đến như vậy?

Chúng tôi đã có cuộc trao đổi cùng ông Quản Trọng Thành - Giám đốc Khối Phân tích tại Công ty Chứng khoán Maybank Investment Bank (MSVN) để làm rõ hơn câu chuyện thiếu hụt vốn của nền kinh tế hiện nay.

PV: Hiện nay thị trường đang tỏ ra rất lo ngại về mức chênh lệch ngày càng được nới rộng giữa huy động và tín dụng, hiện đã lên tới hơn 2 triệu tỷ đồng, theo ông, con số này có ý nghĩa như thế nào và nên hiểu như thế nào cho đúng?

Ông Quản Trọng Thành: Trong thời gian qua, thông điệp về áp lực thanh khoản đã lan truyền rất mạnh. Gần đây, có nhiều nhà đầu tư nước ngoài đặt câu hỏi quan ngại với chúng tôi là hệ thống ngân hàng Việt Nam hụt nguồn nghiêm trọng vậy (trích dẫn con số 2 triệu tỷ đồng) thì làm sao mà hạ được lãi suất huy động. 

Chúng tôi đã phải giải thích lại cho họ rằng: Con số chênh lệch 2 triệu tỷ đồng, hay tỷ lệ LDR 115%, là so sánh đơn thuần giữa tín dụng (Credit) và tiền gửi của khách hàng (Deposits). Trên thực tế, ngân hàng không chỉ có mỗi nguồn tiền gửi từ khách hàng (đây là nguồn chính) mà còn huy động vốn thông qua các nguồn khác nữa, bao gồm chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và vay nước ngoài…

Nhất là trong bối cảnh Việt Nam khi cơ quan quản lý luôn kêu gọi các ngân hàng hạn chế chạy đua lãi suất tiền gửi, thì nhiều ngân hàng đã chuyển qua kênh chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu để huy động cho linh hoạt. Nếu tính đủ những nguồn tiền đó vào thì sẽ không có con số chênh lệch 2 triệu tỷ đồng nói trên.

Theo như những gì tôi được chia sẻ từ các ngân hàng, nếu tính đủ các nguồn huy động khác vào thì thường tỷ lệ cho vay trên tổng nguồn huy động (không tính phần tiền vay liên ngân hàng hay các nguồn tiền vay từ chính phủ) tại các ngân hàng sẽ nằm trong khoảng từ 95 - 98%. Tức là tổng huy động được 100 đồng thì cho vay ra đâu đó khoảng 95 - 98% - Một mức tối ưu và bình thường theo quan sát của chúng tôi.

Những thông tin như chênh lệch 2 triệu tỷ đồng hay tỷ lệ LDR cao quá (115%) đang truyền đi cách đánh giá sai về trạng thái thanh khoản của ngành ngân hàng. Điều đó khiến cả thị trường ai cũng sẽ nghĩ rằng rất khó để thu hẹp gap, và lãi suất sẽ phải ở mức rất cao và rất lâu để ngân hàng huy động đủ nguồn nhằm thu hẹp khoảng cách đó. Từ đó hình thành nên kỳ vọng tiêu cực, làm khó cho ngành ngân hàng.

 

Lạm phát và cạnh tranh nguồn vốn dĩ đang làm cho lãi suất tăng lên, nhưng chính tâm lý kỳ vọng tiêu cực nói trên khiến cho lãi suất tăng cao hơn so với mức đáng lẽ nó phải tăng.

Cứ nhìn vào con số thiếu hụt 2 triệu tỷ đồng, thì ai cũng sợ vì đó là một con số rất lớn, tương đương khoảng 85 tỷ USD (gần tương đương lượng dự trữ ngoại hối của Việt Nam – PV). Tính toán một cách lý thuyết, thì kể cả trong trường hợp tín dụng có tăng trưởng chậm lại khoảng 12%/năm và huy động tăng được trên 15%/năm thì cũng phải mất đến 4 năm nữa thì mới xóa được khoảng cách này, đưa LDR về 100%.

Do vậy, nếu như các thành viên thị trường cứ nhìn vào đó thì sẽ tạo kỳ vọng rất tiêu cực về thanh khoản, từ đó nó gây ra áp lực lên lãi suất. Thực tế hiện nay, những người gửi tiền đơn thuần nhất cũng đang giữ tâm lý mặc cả lãi suất tối đa với ngân hàng.

PV: Theo ông, ở thời điểm hiện tại, nhà điều hành nên truyền đi thông điệp như thế nào để kỳ vọng về lãi suất của thị trường sẽ có những chuyển động tích cực hơn?

Ông Quản Trọng Thành: Tôi nghĩ rằng trước hết cơ quan quản lý, các ngân hàng và các thành viên trên thị trường cần có cách truyền thông đầy đủ hơn và đúng bản chất hơn về bức tranh thanh khoản của ngành.

Cơ quan quản lý cần cung cấp thêm thông tin và giải pháp liên quan đến khả năng cải thiện cung tiền trong thời gian tới (cách phối hợp giữa chính sách tiền tệ và tài khóa trong thời gian tới ra sao, các chiến dịch huy động vốn từ nước ngoài như thế nào), các biện pháp kiểm soát lạm phát của chính phủ và kế hoạch nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia để góp phần giảm chi phí vốn cho nền kinh tế trong dài hạn.

Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần xem xét sớm sửa đổi và đưa vào vận hành khủng quản lý rủi ro thanh khoản mới với bộ chỉ số theo Basel III, thay thế các tỷ lệ LDR/CDR, SML bằng các chỉ số hiện đại và đúng bản chất hơn (LCR, NSFR…) trong quản lý thanh khoản.

Hiện nay, tỷ lệ LDR (sắp tới là CDR) đang áp dụng là một tỷ lệ cứng nhắc, không phản ánh đúng bản chất về rủi ro thanh khoản. Sẽ rất là lý thuyết và tự gây hại nếu chúng ta lan truyền cách nhìn nhận và kỳ vọng sai lầm trên thị trường là phải kéo tỷ lệ này về mức cân bằng 100% hay thấp hơn.

 

Trên thực tế tại nhiều nước trên thế giới như ngân hàng Malaysia tỷ lệ này hầu như đều ở ngưỡng 98 - 100%, còn nhiều ngân hàng (kể cả ở châu Âu, Úc…) thì cao hơn ở mức 100% (thậm chí lên tới 150%). Ở các thị trường đang phát triển, tỷ lệ này nó luôn luôn cao hơn, không thấp hơn được.

Áp dụng khung quản trị thanh khoản hiện đại theo Basel III sẽ giúp các ngân hàng, nhất là các ngân hàng mạnh, chủ động hơn và linh hoạt hơn trong quản lý nguồn của mình, và có thể giảm bớt áp lực chạy đua lãi suất trong ngắn hạn.

Ví dụ, nếu phải tuân thủ theo tỷ lệ cũ SML (tức là giới hạn Vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn), thì chính các ngân hàng mạnh (có CASA cao) lại đang bị thiệt vì CASA bị coi là vốn ngắn hạn. Họ vẫn phải chạy đua tăng lãi suất huy động để tăng nguồn dài hạn như các ngân hàng nhỏ/yếu khác.

Trong khi đó, nếu tuân theo tỷ lệ NSFR (Tỷ lệ vốn ổn định ròng) của khủng quản trị theo Basel III, thì CASA vẫn được coi là một nguồn vốn ổn định. Bởi vì xét về mặt hợp đồng và theo từng tài khoản riêng lẻ thì CASA đúng là vốn ngắn hạn, nhưng xét theo mặt hành vi và tổng thể nguồn thì CASA lại là một nguồn vốn ổn định đối với một ngân hàng.

Vì nó là nguồn tiền mà người ta để giao dịch thường xuyên, khi có người rút ra lại có người khác gửi vào, như một dòng chảy đều đặn. Nên theo Basel III, 95% nguồn CASA vẫn được coi là nguồn vốn ổn định để tính tỷ lệ NSFR.

PV: Vậy đâu sẽ là lời giải cho bài toán lãi suất hiện nay?

Ông Quản Trọng Thành: Lãi suất cho vay cần giảm về mức hợp lý và lành mạnh cho nền kinh tế, 8-10%. Muốn lãi suất cho vay giảm thực sự và bền vững, thì lãi suất huy động vốn phải giảm xuống.

 

Theo quan điểm của tôi thì khả năng lãi suất huy động hạ nhiệt phụ thuộc căn bản vào việc Chính phủ có khả năng cải thiện được cung tiền hay không. Cung tiền cần phải đảm bảo đủ và tăng tương ứng với nhu cầu đầu tư của nền kinh tế.

Thực tế là trong khi tín dụng (đáp ứng nhu cầu đầu tư của khu vực tư nhân) đang tăng với tốc độ hợp lý từ đầu năm đến nay, thì phần cung tiền của nền kinh tế lại đang tạm thời bị hao hụt do phần tiền của Kho bạc Nhà nước (thông qua huy động trái phiếu và thu thuế ngân sách) vẫn chưa được đưa trở lại hết vào cung tiền. Vì vậy, giải ngân đầu tư công được đẩy nhanh sẽ là yếu tố giúp đưa nguồn tiền này trở lại cung tiền đầy đủ.

Lạm phát hạ nhiệt (cả trên bình diện thế giới và ở Việt Nam) sẽ mở ra không gian cho Chính phủ quyết liệt đẩy mạnh các dự án đầu tư công hơn nữa. Bên cạnh đó, lạm phát hạ nhiệt sẽ giảm áp lực về tỷ giá cho Việt Nam, giúp Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có thể cân nhắc bơm thanh khoản mạnh tay hơn để góp phần hạ nhiệt lãi suất.

Trong thời gian này, các ngân hàng vẫn đang chủ động đi huy động các nguồn lực từ bên ngoài. Có thể kể đến như VPBank đã huy động 1,4 tỷ USD, HDBank hơn 700 triệu USD, và sắp tới chúng tôi được biết Techcombank sẽ huy động thêm 1 tỷ USD, hay ACB cũng đang chuẩn bị huy động 300 triệu USD… Các nguồn vốn này thực chất đang giúp bổ sung, cải thiện cung tiền trong nước.

Về trung và dài hạn, chính phủ cần triển khai chiến lược vay vốn nước ngoài để đáp ứng nhu cầu đầu tư trong nước, cụ thể là cần phải đẩy nhanh tốc độ nâng hạng tín nhiệm quốc gia (nếu chờ đến mốc 2030 là khá trễ, theo quan điểm của cá nhân tôi). Nâng hạng tín nhiệm quốc gia lên xếp hạng “Đầu tư” sẽ góp phần làm giảm chi phí huy động vốn từ nước ngoài cho cả chính phủ và nhiều ngân hàng Việt Nam.   

Ngoài yếu tố căn bản là cung tiền nói trên, thì kỳ vọng của thị trường cũng là một yếu tố mà cơ quan điều hành cần kiểm soát tốt hơn. Triển khai khung quản trị thanh khoản mới theo Basel III và thực hiện truyền thông hợp lý, đầy đủ tại các buổi họp báo định kỳ của NHNN là bước đi cần thiết để giảm/tránh các đánh giá sai đang tạo ra kỳ vọng tiêu cực trên thị trường.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Diệp Bình
Alex Chu
Doanh nghiệp & Kinh doanh
Diệp Bình - Đồ hoạ: Alex Chu
QUẢNG CÁO
QUẢNG CÁO