Kinh doanh & Thị trường 11/06/2026 16:01

Phiên 1 VIF 2026 Summer Summit: 'Vĩ mô 2026 - Việt Nam trước các cú sốc bên ngoài và cơ hội bên trong'

Từ những tọa độ vĩ mô quốc tế cho đến các nút thắt nội tại của nền kinh tế, phiên thảo luận thứ nhất “Vĩ mô 2026 - Việt Nam trước các cú sốc bên ngoài và cơ hội bên trong” tại Vietnam Investment Forum - Summer Summit sẽ tập trung làm rõ ba nhóm vấn đề trọng tâm.

 

 

Tỷ giá ổn định nhưng bài toán lớn hơn là khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế

Ngân hàng Nhà nước đã điều hành chính sách rất thành công từ đầu năm đến giờ, song biến động tỷ giá của chúng ta rất là thấp nếu so với các nước khác trong khu vực. Anh Linh đánh giá sao về vấn đề tỷ giá?

Ông Nguyễn Duy Linh, Tổng Giám đốc CTCP Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS): Về vấn đề tỷ giá, tháng 5 vừa rồi là tháng êm đềm nhất của tỷ giá từ đầu năm. Điều này đã tạo ra được sự yên tâm nhất định cho tâm lý nhà đầu tư; trong khi thị trường vẫn tiềm ẩn rủi ro nhất định như lãi suất cuối năm tăng, lạm phát ở Mỹ.

Về thị trường vốn, tín dụng trên GDP là 140 - 150%, đây là một nghịch lý. Tiền trong thị trường rất nhiều song vòng quay thì chậm. Cuối tháng 5 vừa rồi, tăng trưởng tín dụng chỉ 6% là ở mức thấp.

Câu hỏi ở đây không phải nền kinh tế có thiếu tiền hay không mà là có chỗ để giải ngân tiền hay không?

5 tháng đầu năm thu ngân sách 53% kế hoạch, tương đương 1,3 triệu tỷ đồng, chi ngân sách đạt 22% dự toán. Thực trạng này đến từ câu chuyện tài sản thanh khoản kém ở chu kỳ xử lý trái phiếu trước đây, chưa giải quyết hết các vấn đề về mặt pháp lý.

Yếu tố quan trọng nhất là niềm tin của doanh nghiệp chưa có vì thị trường vẫn còn quá nhiều biến số như xung đột thương mại nên doanh nghiệp phòng thủ nhiều hơn. Nếu vẫn muốn tăng trưởng cao thì chúng ta cần phải chuyển đổi trụ cột đến các trụ cột đã làm tốt trong các năm trước.

Muốn tháo gỡ vấn đề cần thực hiện đồng loạt ba giải pháp sau: Đẩy mạnh đầu tư công, tháo gỡ về mặt pháp lý, đồng bộ phát triển vốn.

Giải ngân 95% cũng đã là một kết quả rất tích cực

5 tháng đầu năm, giải ngân đầu tư công mới đạt 21,6% kế hoạch năm, nhưng quy mô tuyệt đối đã tăng 34.816 tỷ đồng, tương ứng tăng 18,9%. Trong bối cảnh nhập siêu lớn, phần đóng góp vào tăng trưởng GDP 7,8% hiện nay có vai trò đáng kể từ mức tăng tuyệt đối của đầu tư công. Theo ông, với tốc độ giải ngân hiện nay, khả năng hoàn thành kế hoạch giải ngân đầu tư công cả năm ra sao, và đầu tư công có thể đóng góp như thế nào vào mục tiêu tăng trưởng 10% của Chính phủ?

TS. Phan Đức Hiếu, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội khóa XVI, Đại biểu Quốc hội khóa XVI: Tôi rất chia sẻ với quyết tâm của Thủ tướng về mục tiêu giải ngân 100%. Tuy nhiên, từ thực tiễn và áp lực của mục tiêu này, đây là nhiệm vụ rất thách thức.

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới chậm giải ngân và khi đi xuống thực tế, tôi cảm nhận không có một nguyên nhân đại diện hay tiêu biểu. Mỗi dự án có quy mô khác nhau, nằm ở địa phương khác nhau và có bối cảnh khác nhau.

Ví dụ trong công tác giải phóng mặt bằng, cùng một khung chính sách nhưng tốc độ triển khai giữa các địa phương có thể rất khác nhau do dữ liệu đất đai khác nhau. Điều này khiến quá trình kiểm đếm, bồi thường, hỗ trợ tái định cư và giải phóng mặt bằng không giống nhau. Mỗi dự án ở một khu vực, địa điểm khác nhau cũng có tính chất phức tạp riêng. Đôi khi chỉ là những lỗi rất nhỏ, chưa hẳn xuất phát từ chính sách, người thực thi hay tâm lý e ngại trách nhiệm.

Trong thời gian qua, Ủy ban Kinh tế đã đi xuống một số địa phương để tìm hiểu các khó khăn, vướng mắc mà địa phương không tự tháo gỡ được, cần xử lý ở cấp Chính phủ hoặc Quốc hội.

Về giải ngân vốn đầu tư công, có hai lý do khá phổ biến mà tôi ghi nhận và mong Chính phủ xem xét. Thứ nhất là sự sẵn có của nguồn nguyên vật liệu san lấp, các mỏ, thậm chí là mỏ đất thông thường.

Đây là vấn đề không phải địa phương nào cũng đáp ứng được và ảnh hưởng lớn đến tiến độ. Một số địa phương có cơ chế đặc thù có thể giải quyết được vấn đề nguồn nguyên vật liệu này. Tôi cho rằng Chính phủ có thể nghiên cứu sớm áp dụng cơ chế đặc thù đó cho tất cả địa phương.

Cơ chế này không hẳn đặc thù vì tính chất riêng của một địa phương mà là cơ chế đặc thù để đẩy nhanh giải ngân các dự án đầu tư nói chung, có thể xem xét áp dụng rộng rãi để giải quyết nguồn nguyên vật liệu.

Thứ hai là tăng giá nguyên vật liệu. Việc tăng giá có nhiều nguyên nhân, từ nguyên vật liệu nhập khẩu đến nguyên vật liệu trong nước, có thể do khan hiếm hoặc các yếu tố khác. Mong muốn của các nhà đầu tư là Nhà nước chia sẻ một phần chi phí tăng thêm này, đặc biệt với các gói thầu đơn giá cố định hoặc gói thầu trọn gói. Với các gói thầu khác, mức độ và tần suất điều chỉnh đơn giá cần kịp thời hơn, phù hợp hơn với diễn biến thực tế và từng địa phương.

Đây là hai trong số các kiến nghị tôi ghi nhận được và là những vấn đề địa phương khó tự giải quyết. Tôi rất mong Chính phủ xem xét tháo gỡ hai điểm này, bởi nếu làm được có thể góp phần thúc đẩy giải ngân đầu tư công.

Ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên cao cấp Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright:  Nhìn vào câu chuyện giải ngân đầu tư công năm nay, năm ngoái chúng ta cũng đặt mục tiêu phấn đấu 100%. Đến hết 12 tháng, tỷ lệ giải ngân chưa đạt 90% nhưng tính thêm tháng thứ 13 thì lên 98% - đây là con số kỷ lục.

Có ý kiến đặt dấu hỏi về mức 98% nhưng quan điểm của tôi là con số này khá tin cậy. Giữa các tháng có thể có vấn đề kỹ thuật trong báo cáo nhưng khi tổng hợp về ngân sách thì rất chặt chẽ, nên mức 98% có thể coi là đỉnh cao.

Năm nay, mục tiêu giải ngân 100% rất thách thức vì quy mô đầu tư công hơn 1 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, tôi đánh giá nếu giải ngân được 95% thì cũng là một cú hích rất tốt cho nền kinh tế. Trong kịch bản này, đầu tư công vẫn tăng 18,5% so với năm 2025. Năm ngoái mức tăng đã rất cao, trên 30% nhưng với quy mô hiện nay, việc duy trì tốc độ tăng 18,5% là trong tầm tay.

Một thuận lợi của các dự án năm nay là một số dự án đã ở giai đoạn nước rút, không còn vướng nhiều ở khâu giải phóng mặt bằng mà chuyển sang giai đoạn cuối như lắp đặt máy móc thiết bị và triển khai. Rủi ro ở giai đoạn này chủ yếu nằm ở hồ sơ, sổ sách và khả năng phát sinh tranh chấp giữa chủ đầu tư với nhà thầu.

Yếu tố lớn nhất là câu chuyện vượt dự toán. Các nhà thầu đều yêu cầu điều chỉnh chi phí đầu tư, tổng mức đầu tư do chi phí vật liệu xây dựng, mua sắm máy móc thiết bị tăng. Vì vậy, tính linh hoạt và khả năng thích ứng của các cơ quan chủ quản, bộ ngành, địa phương rất quan trọng, nhằm phân cấp cho chủ đầu tư để không phải chờ đợi, có thể điều chỉnh và cân đối lại nguồn vốn.

Cũng cần nhất quán với chủ trương dự án nào đang trì trệ, khó khăn thì điều chuyển vốn sang dự án khác có khả năng triển khai tốt hơn. Điều này cũng tạo tiền lệ tốt trong bối cảnh phải điều chỉnh tăng vốn. Nếu làm được, trong một thế giới đầy biến động, đầu tư công của Việt Nam vẫn là yếu tố khá ổn định và chắc chắn.

Việt Nam cần nâng năng lực hấp thụ FDI

Số liệu 5 tháng đầu năm cho thấy FDI thực hiện vẫn tăng trưởng tốt và tập trung vào chế biến, chế tạo nhưng cùng lúc xuất khẩu khu vực FDI tăng mạnh trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước giảm sâu, còn Việt Nam nhập siêu tới 13,8 tỷ USD. Theo ông, đây là tín hiệu tích cực của một chu kỳ mở rộng sản xuất, hay cũng cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu đầu vào và khu vực FDI?

TS. Phan Đức Hiếu, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội khóa XVI, Đại biểu Quốc hội khóa XVI: Thực tế, từ đầu năm ngoái, chúng tôi đã bắt đầu thống kê số liệu xuất nhập khẩu của Việt Nam trong 4 năm. Tôi nhận thấy một xu hướng là dù tổng kim ngạch tăng trưởng nhưng thặng dư thương mại lại giảm dần.

Chúng tôi đã bắt đầu lo ngại về vấn đề này từ giai đoạn 2024 - 2025 chứ không phải đợi đến tận bây giờ. Điểm gây bất ngờ duy nhất là tình trạng nhập siêu mạnh diễn ra trong năm nay; còn việc thặng dư sụt giảm vốn đã có tính tích lũy hệ thống từ trước.

Theo số liệu 5 tháng đầu năm, tổng kim ngạch của chúng ta đạt khoảng 445 tỷ USD, nhập khẩu chiếm khoảng 225 - 226 tỷ USD, dẫn đến mức nhập siêu khoảng 13,8 tỷ USD.

Có ý kiến cho rằng đây là nguyên nhân tức thời do doanh nghiệp đẩy mạnh nhập nguyên liệu để sản xuất và tranh thủ xuất khẩu trước khi các chính sách thuế thay đổi. Dù lý do này có thể đúng một phần nhưng chúng tôi thực sự muốn giải quyết bài toán này tận gốc bằng một giải pháp toàn diện chứ không chỉ xử lý ở phần ngọn.

Về định hướng chiến lược, trong Nghị quyết kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm có đề cập đến việc  xây dựng lại chiến lược xuất nhập khẩu Việt Nam trong giai đoạn mới. Cá nhân tôi mong muốn đây sẽ là một chiến lược toàn diện, bao quát cả hàng hóa và lĩnh vực dịch vụ với các bước đi bài bản, thay vì chỉ đơn thuần là mở rộng thị trường.

Để tránh phụ thuộc vào khu vực FDI, tôi cho rằng cần tập trung xây dựng các chuỗi giá trị của Việt Nam. Chúng ta cần những doanh nghiệp đầu tàu đủ sức dẫn dắt các chuỗi xuất khẩu cả ở trong nước và quốc tế. Thậm chí, Việt Nam cần có chiến lược thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài một cách chuyên nghiệp để hình thành chuỗi liên kết bền vững của riêng mình.

Dù chúng ta không phủ nhận việc tham gia vào chuỗi của các đối tác ngoại, nhưng hiệu quả mang lại đến nay vẫn còn hạn chế và cần được giải quyết một cách căn cơ.

Ông Nguyễn Duy Linh, Tổng Giám đốc CTCP Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS): Về bức tranh FDI và nhập siêu, 5 tháng đầu năm nay có những điểm rất tích cực khi vốn đăng ký tăng trưởng 10% so với cùng kỳ - mức cao nhất trong 5 năm qua.

Đặc biệt, 83% lượng vốn này tập trung vào khu vực chế biến, chế tạo, chứng tỏ Việt Nam vẫn giữ vị thế quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Về con số nhập siêu 13,8 tỷ USD, tôi thấy có hai nguyên nhân chính. Một là về giá, hai là tâm lý lo ngại đứt gãy chuỗi cung ứng do chiến tranh khiến doanh nghiệp chủ động nhập khẩu nguyên vật liệu nhiều hơn. Lượng hàng nhập trong hai quý đầu năm này sẽ chuyển hóa thành năng lượng sản xuất cho quý III và quý IV nên đây có thể xem là một yếu tố tích cực.

Về năng lực hấp thụ và giải pháp chính sách, điểm chưa tích cực là mức độ lan tỏa của dòng vốn FDI còn thấp do chất lượng doanh nghiệp nội địa chưa cao, chưa tham gia sâu vào chuỗi cung ứng giá trị.

Câu hỏi đặt ra không phải là chúng ta có năng lực thu hút FDI hay không mà là Việt Nam có năng lực hấp thụ vốn một cách hiệu quả hay không?

Để cải thiện điều này, chúng ta buộc phải phát triển công nghiệp phụ trợ, nâng cao năng suất lao động và đổi mới công nghệ. Tôi cực kỳ đánh giá cao các giải pháp từ Bộ Chính trị, tiêu biểu là Nghị quyết 57 về khoa học công nghệ để giải quyết điểm nghẽn hiện tại.

Bên cạnh đó là mục tiêu xây dựng nhiều doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh cùng FDI và Chương trình đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026 - 2035. Tôi tin rằng thị trường vốn và chứng khoán sẽ là đơn vị hưởng lợi lớn từ chiến lược cạnh tranh quốc gia với mục tiêu tăng trưởng hai con số này.

Mỹ chuẩn bị cơ sở pháp lý mới cho thuế nhập khẩu

USTR gần đây đề xuất áp thuế bổ sung từ 10% đến 12,5% với hàng hóa nhập khẩu từ nhiều nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Nếu đề xuất này được thực thi, theo ông/bà, tác động lớn nhất với Việt Nam sẽ nằm ở đâu: đơn hàng xuất khẩu, dòng FDI dịch chuyển, biên lợi nhuận doanh nghiệp, hay tâm lý của nhà đầu tư quốc tế?

Ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên cao cấp, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright: Câu chuyện vừa rồi chỉ là một phần trong hai động thái mới về thuế quan. Lý do chính là USTR đang chuẩn bị một cơ sở pháp lý mới để tiếp tục đánh thuế nhập khẩu ở mức cao sau khi mức thuế 10% tạm thời hết hiệu lực vào tháng 7/2026.

Mức 10 - 12,5% là dành cho số lượng lớn các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi bị cáo buộc vi phạm các cam kết về lao động; nhẹ thì bị 10%, còn Việt Nam nằm trong danh sách khoảng 60 nước và bị đề xuất mức 12,5%. Mức thuế này sẽ đánh trên tất cả các mặt hàng để thay thế mức 10%.

Nếu như vậy, theo tôi sẽ không có tác động gì quá lớn, tức là không tích cực vì thuế không về 0, nhưng thay vì cộng 10% thì có thể cộng 10% hoặc 12,5%.

Tuy nhiên, hướng áp thuế thứ hai của Mỹ mới tiềm ẩn rủi ro tác động mạnh hơn, đó là điều tra theo Section 301 với cáo buộc Việt Nam vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Năm 2018, chính quyền Mỹ trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Trump cũng căn cứ vào báo cáo 301 để nói Trung Quốc vi phạm các cam kết, tạo ra chuyển giao công nghệ bắt buộc và gây tổn hại đến doanh nghiệp Mỹ, từ đó áp thuế 25%. Mức thuế này không đánh lên tất cả mặt hàng mà chỉ một số nhóm hàng.

Theo tôi, rủi ro đối với Việt Nam là rất cao vì báo cáo vừa rồi của Mỹ khá sơ sài, mang tính hình thức. Nhóm có quan điểm muốn đánh thuế các nước có thặng dư lớn với Mỹ vẫn tồn tại.

Với các nền kinh tế, quan điểm đầu tiên là tất cả đều phải chịu một mức thuế, chẳng hạn 10%. Riêng những nền kinh tế như Việt Nam có thể phải chịu mức cao hơn. Việc này phụ thuộc rất nhiều vào giải trình.

Hiện có nhiều tổ chức đang giải trình lên USTR từ nay đến ngày 2/7, sau đó sẽ có phiên điều trần để chuẩn bị báo cáo cuối cùng. Quyết định cuối cùng thuộc về Tổng thống Mỹ, dựa trên báo cáo đó để quyết định có đánh thuế Việt Nam hay không. Mức tối thiểu có thể là 10%, tối đa có thể là 25% như tiền lệ. Nếu lên tới 25% thì tác động sẽ rất tiêu cực.

Tuy nhiên, điểm bất trắc là thuế có thể không áp cho tất cả nhóm hàng mà chỉ một số nhóm hàng nên một số ngành hàng của Việt Nam sẽ lo lắng. Tóm lại, theo tôi, khả năng Việt Nam bị đánh thuế là gần như chắc chắn. Khả năng Việt Nam bị đánh thuế cao hơn nhiều nền kinh tế khác cũng rất cao, nhưng tất nhiên vẫn thấp hơn đáng kể so với Trung Quốc. Mức thuế cuối cùng sẽ phụ thuộc vào giải trình và đàm phán của Việt Nam.

Việt Nam có thể lập luận rằng vấn đề sở hữu trí tuệ của Việt Nam khác Trung Quốc, không gây tổn hại quá lớn đến doanh nghiệp Mỹ; có thể có sử dụng phần mềm, sản phẩm không bản quyền, nhưng không dùng việc đó để đánh cắp công nghệ Mỹ hay cạnh tranh trở lại về công nghệ với doanh nghiệp Mỹ.

Đồng thời, Việt Nam có thể phải đưa ra một số nhượng bộ trong các thỏa thuận song phương, chấp nhận các yêu cầu của Mỹ về chế tài mạnh mẽ hơn. Cuối cùng, mức thuế có thể không tới 25%, thậm chí không tới 20% mà có thể là cộng thêm 5 - 6 điểm % trên nền 10 - 12,5%.

Nếu thông tin này ra vào cuối năm hoặc đầu năm sau, đó sẽ là tin tiêu cực cho thị trường. Nhưng đối với nền kinh tế và sức cạnh tranh của Việt Nam, như thời gian năm ngoái chúng ta đã chống chịu được mức thuế cao hơn, nên cũng không phải là quá tiêu cực. 

Fed có thể chưa hạ lãi suất trong năm 2026, áp lực lớn nhất với Việt Nam là dòng vốn và tỷ giá

Nếu giả định lạm phát tại Mỹ và châu Âu không giảm nhanh như kỳ vọng, đồng nghĩa mặt bằng lãi suất toàn cầu duy trì cao lâu hơn thì kịch bản cơ sở cho nửa cuối 2026 là gì? Trong kịch bản đó, Việt Nam sẽ chịu áp lực lớn nhất ở tỷ giá, xuất khẩu hay dòng vốn quốc tế? 

Ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên cao cấp, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright: Những cú sốc bên ngoài làm thay đổi lộ trình điều chỉnh lãi suất điều hành của các nền kinh tế lớn trên thế giới, đặc biệt là Mỹ. Điều này tác động ngay đến mặt bằng giá tài sản, đặc biệt là chứng khoán trong những tuần vừa qua.

Đối với nền kinh tế Mỹ, thị trường lao động có tín hiệu tiếp tục tích cực, tỷ lệ lạm phát đi ngang liên tục 3 tháng với tỷ lệ 4,3%, trong khi số lượng việc làm mới (không tính ngành nông nghiệp) liên tục cao hơn dự báo của thị trường và các nhà kinh tế.

Quan điểm của Fed là ít nhất trong năm nay sẽ không phải lo ngại đến vấn đề thị trường lao động, giảm áp lực phải điều chỉnh lãi suất điều hành theo hướng đi xuống.

Những cú sốc lớn nhất là lạm phát. Tin từ ngay đêm qua, đúng như kỳ vọng, lạm phát được dự báo ở mức 4,3% thì con số chính thức công bố là 4,2%. Kể cả khi loại bỏ giá năng lượng và giá lương thực, đặc biệt trong bối cảnh giá năng lượng đã tăng khoảng 40% thì lạm phát cơ bản của Mỹ hiện vẫn ở mức 2,9%.

Về mặt dự báo lãi suất, thị trường hiện cần chuẩn bị cho một kịch bản thận trọng hơn so với kỳ vọng trước đây. Không chỉ khả năng Fed chưa thể cắt giảm lãi suất trong năm nay, mà thậm chí đến quý IV còn xuất hiện khả năng tăng thêm 25 điểm cơ bản nếu áp lực lạm phát tiếp tục duy trì.

Trong cuộc họp sắp tới, dù đây là phiên họp đầu tiên dưới sự điều hành của Chủ tịch Fed mới, kịch bản được thị trường đánh giá có xác suất cao nhất vẫn là giữ nguyên lãi suất. Tuy nhiên, những diễn biến gần đây cho thấy Fed vẫn để ngỏ khả năng thắt chặt hơn nếu lạm phát không giảm về mục tiêu như kỳ vọng.

Nếu kịch bản này xảy ra, tác động sẽ xuất hiện ngay trên mặt bằng giá tài sản toàn cầu. Đối với Việt Nam, mối quan ngại lớn nhất không nằm ở tăng trưởng kinh tế mà là áp lực lên dòng vốn đầu tư quốc tế, đặc biệt là dòng vốn trên thị trường chứng khoán.

Từ đầu năm đến nay, nhiều nền kinh tế như Hàn Quốc và Indonesia đã chịu ảnh hưởng đáng kể từ môi trường lãi suất toàn cầu duy trì ở mức cao. Đồng nội tệ mất giá, trong khi dòng vốn ngoại liên tục rút khỏi các thị trường tài chính.

Tuy nhiên, Việt Nam, Malaysia và Thái Lan lại có diễn biến tương đối khác biệt. Từ đầu năm đến trước khi xung đột Trung Đông bùng phát, đồng tiền của cả ba quốc gia đều có xu hướng tăng giá. Sau cú sốc địa chính trị và năng lượng, mức tăng trước đó gần như bị xóa bỏ nhưng nhìn chung các đồng tiền vẫn duy trì được sự ổn định tương đối. Trong nhóm này, đồng Việt Nam là một trong những đồng tiền tương đối là ổn định.

Mặt bằng lãi suất cao là điều bắt buộc nếu muốn duy trì lãi suất ở mức đủ cao để hỗ trợ tỷ giá. Ngược lại, nếu ưu tiên mục tiêu tăng trưởng thì có thể chấp nhận đồng tiền mất giá nhưng sẽ giảm bớt tác động từ việc dòng vốn nước ngoài rút ra.

Đối với Việt Nam, tác động từ cú sốc lạm phát và mặt bằng lãi suất toàn cầu ở mức cao vẫn nằm trong tầm kiểm soát của cơ quan điều hành. Vấn đề là lựa chọn giữa việc hỗ trợ tỷ giá hay không duy trì lãi suất ở mức cao.

Cho đến thời điểm hiện tại, định hướng điều hành là không mong muốn nhưng chấp nhận mặt bằng lãi suất cao. Nếu tiếp tục duy trì lựa chọn này thì áp lực lên tỷ giá sẽ không quá lớn. Tuỳ vào nhà điều hành, nếu chuyển hướng tạo thêm thanh khoản cho thị trường thì áp lực tỷ giá sẽ tăng.

Bà Nguyễn Thị Triều, CEO Blue Bridge Investment Partners: Trong 5 tháng vừa rồi có 4 câu chuyện định hình tăng trưởng toàn cầu năm 2026 và đều có những tác động trực tiếp đến quỹ đạo của nền kinh tế Việt Nam.

Câu chuyện đầu tiên là cuộc xung đột Trung Đông đã gây gián đoạn nguồn cung dầu mỏ và làm giá dầu tăng gần 50% so với cuối năm 2025. Tệ hơn, cú sốc đã lan sang khí hóa lỏng, phân bón, hóa dầu và logistics toàn cầu.

Hậu quả từ cú sốc năng lượng dẫn đến nguy cơ tăng trưởng chậm lại của kinh tế toàn cầu. 12/21 nền kinh tế lớn đều bị cắt giảm dự báo tăng trưởng năm 2026 so với dự báo đầu năm. Con số này phản ánh tác động lan rộng của cuộc khủng hoảng giá dầu. Nó không chỉ nằm trong giới hạn những doanh nghiệp nhập khẩu dầu thô.

Câu chuyện thứ ba là lãi suất toàn cầu, đặc biệt tại Mỹ và châu Âu, đã không giảm như kỳ vọng do rủi ro lạm phát từ cú sốc dầu và kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng tốt, khiến Fed không có động cơ cắt giảm lãi suất.

Và cuối cùng là cuộc chơi thương mại quốc tế vẫn tiếp tục được vẽ lại. Sau chính sách về thuế đối ứng tháng 4 năm ngoái của Tổng thống Trump thì thuế quan toàn cầu tạm thời áp dụng là 10%, tuy nhiên được duy trì đến tháng 7 năm 2026.

Hiện nay, USTR đang khởi động lại hai cuộc điều tra nhắm vào Việt Nam từ tháng 3 năm 2026 và rủi ro thương mại trong vòng 12 đến 18 tháng tới là hiện hữu.

Tham gia phiên thảo luận thứ nhất “Vĩ mô 2026 - Việt Nam trước các cú sốc bên ngoài và cơ hội bên trong” tại Vietnam Investment Forum - Summer Summit có những diễn giả là chuyên gia kinh tế đầu ngành:

- TS. Phan Đức Hiếu, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội khóa XVI, Đại biểu Quốc hội khóa XVI

- Ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên cao cấp Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright

- Ông Nguyễn Duy Linh, Tổng Giám đốc CTCP Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS)

- Phiên thảo luận được điều phối bởi bà Nguyễn Thị Triều, CEO Blue Bridge Investment Partners

 

BBT
CÙNG CHUYÊN MỤC
Kinh doanh & Thị trường 11/06/2026 17:22
Chủ tịch WiGroup: Khi đưa AI vào tài chính tỷ lệ thất bại rất cao, chưa thể thay thế chuyên viên phân tích

Lãnh đạo WiGroup cho biết rất nhiều startup làm AI tài chính cũng gặp thất bại, khi AI rất dễ bị “ảo giác máy tính”.

Kinh doanh & Thị trường 11/06/2026 17:12
Giám đốc Nhà máy số TPBank - Bùi Xuân Trường: Hai năm qua, AI - Big Data đã giúp chúng tôi tăng năng suất 64%

Với ba chiến lược AI là trên hết, Data là đầu tiên và Cloud luôn sẵn sàng; trong hai năm qua, TPBank đã tăng năng suất lao động tới 64%, tức là tạo ra được lợi nhuận trên mỗi đầu nhân viên.

Kinh doanh & Thị trường 11/06/2026 17:09
Sếp SSI: AI giúp thay đổi cách thức làm việc, nhưng trách nhiệm và ra quyết định vẫn thuộc về con người

Lãnh đạo SSI cho biết quan điểm của ông là sử dụng dữ liệu ở quy mô nhỏ để đảm bảo an toàn thông tin. Tuy AI giúp ích rất nhiều nhưng các chuyên viên phân tích vẫn phải tuân thủ các quy định khắt khe của ngành.

Kinh doanh & Thị trường 11/06/2026 16:17
Chủ tịch HD Securities Vũ Hữu Điền: Gần 30 năm làm nghề đầu tư chuyên nghiệp, tôi nhận ra tầm quan trọng của AI

Ông Vũ Hữu Điền cho rằng cá nhân ông rất tin tưởng vào AI, và AI có thể giúp cá nhân hóa sản phẩm cho nhà đầu tư.

QUẢNG CÁO
QUẢNG CÁO