17/09/2026 14:20

TS. Trương Văn Phước: Phát hành trái phiếu Chính phủ bằng USD lúc này là rất phù hợp

Theo TS. Trương Văn Phước, việc phát hành trái phiếu Chính phủ bằng USD lúc này rất phù hợp, sẽ có nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm, mua trái phiếu. Đặc biệt, Việt Nam đang xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế nên cần có sản phẩm để khởi động và thu hút nhà đầu tư quốc tế.

Theo nguồn tin của Reuters, Việt Nam đang cân nhắc tiến hành đợt phát hành trái phiếu chính phủ bằng với quy mô 1 tỷ USD. Nếu đợt phát hành này được thực hiện đây sẽ là đợt phát hành trái thiếu USD đầu tiên sau hơn một thập kỷ.

Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện cùng TS. Trương Văn Phước, nguyên Quyền Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia và Thành viên Hội đồng khoa học Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xoay quanh vấn đề này.

- Thưa chuyên gia, theo nguồn tin của Reuters, Bộ Tài chính Việt Nam đang cân nhắc thực hiện đợt phát hành trái phiếu Chính phủ bằng USD sau hơn một thập kỷ gián đoạn. Vậy tại sao Việt Nam tạm dừng phát hành trái phiếu bằng USD lâu như vậy thưa ông?

Chuyên gia Trương Văn Phước: Trên thực tế, trong gần 10 năm nay, các chuyên gia kinh tế, tài chính, ngân hàng đã từng đề xuất giải pháp phát hành trái phiếu bằng USD để huy động vốn. Tuy nhiên, có nhiều lý do khách quan và chủ quan nên Chính phủ Việt Nam vẫn chưa thực hiện giải pháp này.

Một phần nguyên nhân quan trọng trong đó là việc chúng ta đang tiến hành đề án hạn chế hiện tượng "đô la hóa".

Bản chất của đô la hoá là việc người dân, doanh nghiệp ưa chuộng nắm giữ USD thay vì VND để tích trữ, thanh toán hoặc ghi giá trị hợp đồng.

Để hạn chế tình trạng này, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách bao gồm: duy trì lãi suất tiền gửi ngoại tệ ở mức 0%, kiểm soát chặt chẽ giao dịch ngoại tệ và củng cố niềm tin vào nội tệ.

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng điều hành tỷ giá linh hoạt và quan trọng là ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát, củng cố sức mua và vị thế của đồng nội tệ để người dân tin tưởng nắm giữ thay vì chuyển sang USD.

- Bối cảnh hiện nay khác với giai đoạn trước thế nào và việc phát hành trái phiếu bằng USD ở giai đoạn này đã phù hợp chưa, thưa ông?

Chuyên gia Trương Văn Phước: Kinh tế vĩ mô hiện đã khác xa so với 10 hay 20 năm trước. Quy mô GDP của Việt Nam hiện đã đạt trên 500 tỷ USD (năm 2025) tạo tiềm lực hết sức vững chắc cho đồng Việt Nam. Lạm phát trong những năm vừa qua cũng duy trì ở mức thấp. Đây là những yếu tố tạo nên nội lực của đồng Việt Nam.

Chúng ta hình dung khoảng 10-20 năm trước người ta mua nhà, mua xe đều định giá bằng đồng USD hoặc bằng vàng, còn bây giờ, người ta tính bằng đồng Việt Nam.

Điều đó có nghĩa là, Chính phủ đã có cơ sở để khẳng định rằng đồng Việt Nam đã tạo ra một thế và lực mới trên thị trường các đồng tiền, mặc dù chưa phải là một đồng tiền chuyển đổi.

Cho nên, tôi cho rằng lúc này việc phát hành trái phiếu Chính phủ bằng USD là rất phù hợp, sẽ có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm, mua trái phiếu của chúng ta.

Đặc biệt là, Việt Nam đang xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC) nên cần khởi động các sản phẩm tài chính phổ biến như trái phiếu Chính phủ ngoại tệ để các nhà đầu tư nước ngoài có thể tiếp cận một cách hiệu quả với trung tâm này. Chính phủ cũng đã nhiều lần nêu yêu cầu IFC cần sớm có các sản phẩm để thu hút nhà đầu tư nước ngoài.

Do đó, việc phát hành trái phiếu quốc tế vừa là yêu cầu thực tiễn của thị trường, vừa xuất phát từ nguyên nhân chủ quan khi cần có các sản phẩm để thu hút nhà đầu tư nước ngoài đến với IFC.

 

- Nếu đợt phát hành trái phiếu này được thực hiện thành công sẽ tác động như thế nào đến thị trường tài chính?

Chuyên gia Trương Văn Phước: Trước hết, chúng ta đã ngưng việc phát hành trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ ra nước ngoài trong thời gian khá lâu nên nếu đợt phát hành này thành công thì thị trường tài chính Việt Nam sẽ thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư trên thế giới, trong đó có Trung tâm tài chính quốc tế mà chúng ta đang xây dựng bước đầu.

Điều này thể hiện ý chí quyết tâm và tín hiệu mà Việt Nam muốn phát đi cho cộng đồng nhà đầu tư quốc tế, cho thấy sự chuyển biến mạnh mẽ của thị trường tài chính Việt Nam.

Đây cũng là sản phẩm tiêu biểu và có tính chất là mở đầu cho các hệ thống sản phẩm dịch vụ mà IFC cung ứng cho các nhà đầu tư nước ngoài.

Thứ hai, IFC của Việt Nam về lâu dài sẽ mở ra sự hội nhập giữa các nội luật tài chính trong nước và quốc tế. Các quy định của thị trường tài chính Việt Nam sẽ cần phải tương thích, bắt kịp và hội nhập với các thông lệ tốt nhất của thị trường tài chính quốc tế.

Một trong những ví dụ của sự hội nhập về thông lệ quốc tế là việc xác định lợi suất hợp lý cho trái phiếu. Thông thường, lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ thường là tham chiếu cho các nước khi họ phát hành trái phiếu Chính phủ của quốc gia họ,

Tôi nghĩ rằng nếu việc phát hành thành công đợt đầu tiên, chắc chắn sẽ có các đợt phát hành sau với tần suất dày đặc và quy mô lớn hơn. Bởi đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, vốn là một trong những yếu tố quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, nhất là mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số.

Nguồn lực tiền tệ của bất kỳ quốc gia nào cũng chịu nhiều ràng buộc khi yếu tố lạm phát là “phanh” hãm lại. Vì vậy, bất cứ Ngân hàng Trung ương nào cũng phải hết sức dè dặt khi muốn nới lỏng chính sách tiền tệ.

Trong bối cảnh lãi suất đồng Việt Nam hiện nay tương đối cao và tỷ giá hối đoái ổn định, giải pháp phát hành trái phiếu quốc tế sẽ giảm bớt áp lực cung ứng vốn nên hệ thống ngân hàng, từ đó giảm áp lực đối với lãi suất VND. Điều này cũng mở ra cơ hội để huy động vốn quốc tế giá rẻ nhằm cân bằng lãi suất trong nước.

Hiện nợ công của Việt Nam ở mức khoảng 37%, còn cách khá xa so với trần nợ công 60% GDP cũng tạo dư địa rất tốt cho việc huy động vốn quốc tế.

Thứ ba, sắp tới, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ được nâng hạng. Vì vậy, việc phát hành trái phiếu Chính phủ quốc tế cũng là một tín hiệu để cho các nhà đầu tư ngoại thấy thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng có mức độ thanh khoản cao hơn, củng cố niềm tin đối với thị trường.

- Áp lực lạm phát và tỷ giá có gia tăng nếu Việt Nam phát hành trái phiếu bằng USD? Theo ông, dư địa chính sách tiền tệ của Việt Nam có còn dồi dào? Ông có đề xuất gì về chính sách ngoại tệ trong bối cảnh hiện nay?

Chuyên gia Trương Văn Phước: Hiện nay, VND đã có nội lực rất tốt. Có hai yếu tố hỗ trợ điều này là lạm phát thấp và tỷ giá ổn định.

Thứ nhất là lạm phát, được kiểm soát ổn định và giữ ở mức khá thấp. Trong bối cảnh thị trường chịu cú sốc về năng lượng, lạm phát Việt Nam mới tăng lên mức 4,4% - 4,5%. Nếu không có cú sốc đó, tôi cho rằng lạm phát chỉ ở mức 3,4% - 3,5%.

Không ai có thể ngăn được cú sốc năng lượng toàn cầu, nhưng tôi tin sớm muộn gì từ đây đến tháng 11, sau cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ của Mỹ, sẽ có những diễn biến mới khiến giá năng lượng, giá dầu Brent, giá dầu thô thấp xuống. Khi đó, yếu tố lạm phát nhập khẩu sẽ không còn đáng ngại.

Chúng ta cũng cần thấy rằng gần 95% hàng nhập khẩu của Việt Nam là tư liệu sản xuất, chỉ có trên 5% là hàng tiêu dùng, nên lạm phát dưới hình thái nhập khẩu tôi cho là sẽ rất thấp.

Về yếu tố bên trong, Việt Nam là một nền kinh tế nông nghiệp – đây vẫn là trụ đỡ vững chắc. Trong khi ở châu Phi hay nhiều châu lục khác giá lương thực tăng cao do giá phân bón tăng, thì ở Việt Nam giá lương thực thậm chí còn giảm.

Bên cạnh đó, chúng ta đang áp dụng chính sách tài khóa để bù đắp, ví dụ như đưa thuế môi trường ra khỏi giá xăng dầu để giữ giá xăng thấp. Trong khi thế giới tăng 40-50%, giá xăng của chúng ta chỉ tăng đâu đó 10-15%.

Thứ hai là, tỷ giá ổn định. Khi quan sát tỷ giá USD/VND từ đầu năm đến nay, có thể thấy đồng USD thực tế đang xuống giá so với VND chứ không phải tăng giá.

Nguồn: WiData.

Từ đầu năm đến nay, mặc dù NHNN tăng tỷ giá trung tâm lên 1,4%, nhưng trên thị trường tự do, tỷ giá USD/VND đã giảm 4%, tỷ giá USD/VND liên ngân hàng cũng giảm gần 1,5% và USD ngân hàng bán cho doanh nghiệp, dân cư cũng giảm xấp xỉ 1%.

Về điều hành chính sách, việc ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát là một mục tiêu quan trọng và nhất quán trong chính sách vĩ mô của Việt Nam.

Ngày 17/(theo giờ Việt Nam), Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã tăng lãi suất thêm 0,25 điểm % lên 4% cho thấy nền kinh tế lớn nhất thế giới cũng hết sức thận trọng trong quan hệ giữa lãi suất và lạm phát.

Với Việt Nam, tôi cho rằng khái niệm "dư địa chính sách tiền tệ" cần được nhìn theo một quan điểm phù hợp với yêu cầu của mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao hai con số.

Việc một số dự án hạ tầng trọng điểm được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho phép không tính vào hạn mức tín dụng hay là việc mới đây NHNN chỉ đạo các ngân hàng thương mại không tính các khoản tín dụng tăng thêm so với năm 2025 đối với nhà hàng, khách sạn, du lịch sinh thái nghỉ dưỡng,… vào lĩnh vực bất động sản là những quan điểm cởi mở hơn trong dư địa chính sách tiền tệ.

 

Về chính sách đối với ngoại tệ, Việt Nam đã thực hiện đề án hạn chế Đô la hoá trên 20 năm nay và cần phải có sự đánh giá, xem xét, thậm chí là tổng kết lại toàn diện.

Chính sách duy trì lãi suất tiền gửi ngoại tệ ở mức 0% có thể phù hợp trong giai đoạn trước nhưng, hiện nay có thể cần được thay đổi để tạo ra một nguồn lực lớn hơn phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng của đất nước ta.

Tăng trưởng hai con số là một khát vọng lớn của đất nước, cho nên nguồn lực tài chính là rất quan trọng, kể cả từ nội tệ hay ngoại tệ. Và khi mà nội lực của VND mạnh lên, tỷ giá ổn định, cùng với việc mở cửa thị trường tài chính, thì đây cũng là thời điểm để cân nhắc khôi phục trở lại thông lệ trả lãi suất cho huy động ngoại tệ.

Trân trọng cảm ơn ông!

Hạ An
QUẢNG CÁO
QUẢNG CÁO