TrongThông tư 50/2026/TT-NHNN mà Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, một trong những tỷ lệ quy định mới được đề cập đến là "Tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng" (NSFR - Net Stable Funding Ratio).
Đây là một trong hai tỷ lệ giúp đưa các quy định về quản trị rủi ro của các ngân hàng tiến gần hơn tới tiêu chuẩn quốc tế basel III.
Theo Điều 22, NSFR được xác định bằng nguồn vốn ổn định sẵn có (ASF) chia cho nguồn vốn ổn định yêu cầu (RSF), nhân 100%. Tỷ lệ được tính trên cơ sở riêng lẻ, bao gồm các khoản mục bằng VND và ngoại tệ được quy đổi sang VND.
ASF phản ánh phần vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả theo mức độ ổn định. RSF phản ánh lượng nguồn vốn ổn định cần thiết để tài trợ cho tài sản và cam kết ngoại bảng.
Theo Điều 23 của Thông tư 50, ASF được tính bằng tổng giá trị từng thành phần trong danh mục ASF nhân với hệ số ASF tương ứng. Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu được phân loại theo tính chất và kỳ hạn.
Các nhóm kỳ hạn gồm không kỳ hạn, dưới 6 tháng, từ 6 tháng đến dưới một năm, từ một năm trở lên. Nguồn vốn có thời hạn dài hơn hoặc ít có khả năng bị rút khỏi ngân hàng được áp dụng hệ số ASF cao hơn.
Chẳng hạn, tiền gửi bán lẻ ổn định được áp dụng hệ số ASF 95%, trong khi tiền gửi bán lẻ kém ổn định thường ở mức 90%. Nguồn huy động từ tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có kỳ hạn dưới 6 tháng có hệ số ASF 0%, từ 6 tháng đến dưới một năm là 50% và từ một năm trở lên là 100%.
Như vậy theo quy định này, tiền gửi không kỳ hạn (CASA), khoản mục trước đây không được xem xét thì hiện tại đã được tính 90% vào lượng nguồn vốn ổn định của ngân hàng. Từ đó giúp các ngân hàng có CASA mạnh tận dụng được thế mạnh của mình và không phải sa vào các cuộc đua lãi suất huy động tiền gửi dài hạn.
Ở mẫu số, Điều 24 quy định RSF bằng tổng giá trị từng thành phần của danh mục RSF nhân với hệ số RSF tương ứng. Tài sản và cam kết ngoại bảng được phân loại để xác định lượng nguồn vốn ổn định cần thiết.
Hệ số RSF thay đổi tùy đặc điểm thanh khoản và kỳ hạn của tài sản. HQLA cấp 1 có hệ số RSF 5%, cấp 2A là 15% và cấp 2B là 50%. Tài sản càng kém thanh khoản hoặc có thời hạn dài thì nhu cầu nguồn vốn ổn định càng lớn.
Với tài sản bị ràng buộc, nếu thời gian còn lại từ một năm trở lên, hệ số RSF là 100%. Nếu thời gian từ 6 tháng đến dưới một năm, hệ số tối thiểu là 50% hoặc mức cao hơn nếu tài sản vốn có hệ số RSF trên 50%.
Theo lộ trình bắt buộc, NSFR riêng lẻ phải đạt tối thiểu 90% từ ngày 1/10/2028, tăng lên 95% từ ngày 1/10/2029 và đạt 100% từ ngày 1/10/2030 trở đi. Lộ trình NSFR hoàn tất sớm hơn LCR, vốn đạt 100% từ tháng 10/2033.
Nguồn: Thông tư 50/2026/TT-NHNN
Ngân hàng được đăng ký áp dụng sớm NSFR cùng với LCR. Với trường hợp đăng ký theo lộ trình, NSFR bắt đầu ở 90%, tăng lên 95% sau một năm và đạt 100% sau hai năm kể từ ngày bắt đầu áp dụng.
Thông tư cũng cho phép ngân hàng đăng ký tuân thủ ngay mức tối thiểu 100% đối với cả LCR và NSFR. Trường hợp được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận áp dụng phương pháp xếp hạng nội bộ theo Thông tư 14/2025 trước ngày 1/7/2033, ngân hàng phải đạt 100% đối với cả hai tỷ lệ trong tối đa 90 ngày.
So với Thông tư 22, NSFR là chỉ tiêu mới. Quy định hiện hành kiểm soát chênh lệch kỳ hạn thông qua tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn, còn NSFR mở rộng sang cấu trúc nguồn vốn, tài sản và một số cam kết ngoại bảng.
Trước khi áp dụng LCR và NSFR, ngân hàng vẫn phải tuân thủ và báo cáo các tỷ lệ theo Thông tư 22. Khi chuyển sang cơ chế mới, ngân hàng không còn phải tuân thủ tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn dùng cho vay trung, dài hạn theo Thông tư 22, nhưng vẫn phải báo cáo.