Câu chuyện chuyển giao công nghệ hay phát triển ngành cung ứng nội địa luôn là đề tài nóng khi nói về sự phát triển của nền công nghiệp Việt Nam. Đã có nhiều so sánh giữa Toyota - VinFast, khi Toyota Việt Nam công bố số lượng nhà cung ứng nội địa. Tính trung bình, một chiếc ô tô có khoảng 30.000 chi tiết từ đơn giản đến phức tạp.
Thông tin trên Vietnamnet cho biết, sau gần 3 thập kỷ hiện diện tại Việt Nam, Toyota đã xây dựng được chuỗi cung ứng với 61 nhà cung cấp tại Việt Nam, trong đó 13 doanh nghiệp thuần Việt, nội địa hóa hơn 1.000 linh kiện ô tô. Tất cả nhằm phục vụ cho lắp ráp xe trong nước và xuất khẩu tới 13 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng doanh thu xuất khẩu tích lũy đạt gần 1 tỷ USD.
Vào tháng 5/2025, trong thông báo về việc tổ chức Hội nghị “Tăng cường nội địa hóa và phát triển hệ thống nhà cung cấp cho VinFast”, doanh nghiệp cho biết đang hợp tác với gần 700 doanh nghiệp trong nước để cung cấp linh kiện, vật tư, thiết bị phục vụ sản xuất.
Tuy nhiên, con số so sánh trên là tương đối khập khiễng bởi bản thân Toyota vốn là một doanh nghiệp FDI toàn cầu, lịch sử lâu đời và thành danh nhờ xe xăng. Còn nếu vẫn muốn so sánh, thì có thể so ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Nam Á hoặc so năm 2025 với những năm trước.
Mới đây, Jetro vừa phát hành Báo cáo “Khảo sát thực trạng doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tại nước ngoài” trong năm tài chính 2025. Đây là khảo sát thường niên của Jetro được thực hiện bắt đầu từ năm 1987.
Việt Nam vẫn là thiên đường của doanh nghiệp Nhật Bản khi đầu tư ra nước ngoài. Việt Nam đang là thị trường có tổng số doanh nghiệp được Jetro gửi khảo sát nhiều nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương với 2.008 và cũng là nơi gửi số phiếu hợp lệ nhiều nhất 906, hơn cả Trung Quốc lẫn Ấn Độ.
(Nguồn ảnh: Jetro)
Doanh nghiệp Nhật yêu thích Việt Nam vì làm ăn dễ hơn nơi khác. Minh chứng: tỷ lệ doanh nghiệp kỳ vọng "có lãi" trong năm 2025 đạt 67,5% (tăng 3,4 điểm so với năm trước), mức cao nhất kể từ năm 2009. Ngoài ra, tỷ lệ doanh nghiệp "có lãi" đã tăng liên tiếp trong hai năm và lần đầu tiên sau 5 năm kể từ năm 2020, vượt qua mức trung bình của ASEAN (65,3%).
Tỷ lệ doanh nghiệp Nhật Bản trả lời dự báo lợi nhuận kinh doanh năm 2025 so với năm 2024 sẽ "cải thiện" là 42,3%. Về triển vọng lợi nhuận kinh doanh năm 2026 so với năm 2025 cho thấy 47,6% doanh nghiệp dự báo "cải thiện”; con số này cao hơn trung bình ASEAN (42,7%) 4,9 điểm.
Cũng theo Báo cáo, về phương hướng triển khai kinh doanh trong 1–2 năm tới, Việt Nam có tỷ lệ doanh nghiệp trả lời sẽ "mở rộng" là 56,9% (tăng 0,8 điểm so với năm trước). Mặc dù tham vọng mở rộng của các doanh nghiệp gần như ổn định, nhưng Việt Nam tiếp tục dẫn đầu trong khu vực ASEAN năm thứ hai liên tiếp.
Cụ thể hơn: tỷ lệ doanh nghiệp trong ngành chế tạo trả lời sẽ "mở rộng" là 51,1% (tăng 3,0 điểm so với năm trước), doanh nghiệp trong ngành phi chế tạo là 61,7% (giảm 1,5 điểm). Đối với chức năng mở rộng, trong cả ngành chế tạo và ngành phi chế tạo, "sản xuất" - gồm sản phẩm đa năng và sản phẩm có giá trị gia tăng cao, đều vượt mức trung bình của ASEAN.
Tỷ lệ thu hẹp 4,2% và di chuyển/rút sang nước khác là 0,7% của Việt Nam thấp thứ nhì ASEAN, chỉ đứng trên Philippines.
Sự lạc quan nói trên của giới doanh nghiệp Nhật đang kinh doanh tại Việt Nam một phần đến từ thành tựu nhỏ mà các doanh nghiệp cung ứng Việt Nam vừa đạt được.
Tỷ lệ thu mua nguyên vật liệu trong nội địa Việt Nam đạt 38,1% (tăng 1,5 điểm so với năm trước). Ngoài ra, tỷ lệ FDI Nhật Bản thu mua từ các doanh nghiệp nội địa chiếm 18,3% trong tổng hoạt động thu mua (tăng 2,6 điểm so với năm trước).
“Trong giai đoạn 2016 - 2024, tỷ lệ nói trên duy trì quanh mức 15%, năm 2025 là lần đầu tiên vượt mốc 18% kể từ khi chúng tôi bắt đầu thực hiện khảo sát và cao nhất từ trước tới nay”, ông Okabe Mitsutoshi, Trưởng đại diện JETRO tại TP HCM cho biết thêm.
Ông Okabe Mitsutoshi, Trưởng đại diện JETRO tại TP HCM (Ảnh: Jetro)
Khi xem xét chi tiết nguồn thu mua theo từng ngành, Giấy/Sản phẩm gỗ/In ấn, Máy móc nói chung và Thực phẩm có tỷ lệ thu mua nội địa vượt 50%. Ngược lại, Linh kiện thiết bị điện/điện tử và Thiết bị vận tải có tỷ lệ thu mua nội địa dưới 30%.
Nhìn vào khu vực ASEAN, hai chỉ số nói trên của Việt Nam đứng sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia và trước Philippines, Singapore, Campuchia.
Tỷ lệ FDI Nhật thu mua nguyên vật liệu trong nội địa Thái Lan là 59,4% - doanh nghiệp nội địa là 26,8%. Theo đó, Thái Lan chính là đất nước có ngành công nghiệp hỗ trợ hùng mạnh nhất khu vực. Các chỉ số tương đương của Indonesia là 49,6% - 24,4%, Malaysia 40,1% - 25,2%, Phlippines là 30,6% – 13,8%, Singapore 24,6% - 12,9%.
Tương ứng, tỷ lệ thu mua từ nhà cung cấp Trung Quốc của doanh nghiệp Nhật đang hoạt động ở Việt Nam cũng cao nhất ASEAN – 14,8% và gấp đôi Thái Lan – Indonesia.
Do tỷ lệ thu mua nội địa ở Việt Nam vẫn còn thấp, nên hầu hết doanh nghiệp Nhật đều muốn mở rộng trong tương lai. Báo cáo nêu rõ, về tỷ lệ thu mua nội địa trong 1–2 năm tới, tỷ lệ doanh nghiệp trả lời "mở rộng" là 49,4% - giảm 1,5 điểm so với năm trước, nhìn chung gần như không thay đổi.
Nếu xét theo từng ngành, các ngành như Thiết bị điện/điện tử, Thiết bị chính xác/y tế và Máy móc nói chung cho thấy mức độ sẵn sàng mở rộng thu mua nội địa cao. Đặc biệt, trong các ngành Cao su/Gốm sứ/Đất đá và Giấy/Sản phẩm gỗ/In ấn, tỷ lệ doanh nghiệp trả lời "mở rộng" đã tăng ít nhất 20 điểm so với năm trước.
(Ảnh: Jetro)
“Ba vấn đề hàng đầu trong thu mua nội địa có tỷ lệ trả lời giảm trong năm 2025 so với năm 2021, tuy nhiên tỷ lệ trả lời của hai vấn đề đứng đầu vẫn trên 50%”, ông Okabe Mitsutoshi nhận định.
Có 58,9% doanh nghiệp cho biết “không có nhà sản xuất có thể cung cấp nguyên vật liệu tại địa phương”; 54,4% chọn “chất lượng và năng lực kỹ thuật của nhà cung cấp nội địa chưa đủ”; 28,9% chọn “không có nhà sản xuất có thể cung cấp linh kiện tại địa phương”.
Những lý do tiếp theo là “nguyên liệu/linh kiện sử dụng được chỉ định bởi trụ sở chính hoặc khách hàng”, “không có doanh nghiệp có thể đáp ứng đơn hàng với số lượng nhỏ”, “năng lực cạnh tranh về chi phí của nhà cung cấp nội địa còn yếu” tức nhập khẩu sẽ rẻ hơn, cuối cùng là “gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin để tìm kiếm nhà cung cấp mới”.
Các doanh nghiệp trong ngành Thiết bị chính xác/y tế đang gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm nhà cung ứng địa phương nhất, khi đứng đầu tỷ lệ bình chọn cả ba lý do. 62,7% doanh nghiệp trong ngành Sắt/Kim loại màu/Kim loại chọn lý do thứ hai; 60,6 doanh nghiệp trong ngành Linh kiện thiết bị điện/điện tử chọn lý do thứ ba.
Ngạc nhiên nhất là có tới 63% - 70,4% doanh nghiệp trong ngành Dệt may/Áo quần chọn lý do thứ nhất và thứ hai; trong khi ngành này là thế mạnh của Việt Nam.
Một trong những động lực thúc đẩy các FDI Nhật Bản phải tăng mua nội địa ở Việt Nam đến từ thị trường xuất khẩu lớn – nước Mỹ.
Tại Việt Nam, 35% doanh nghiệp Nhật Bản cho biết "có xuất khẩu sang Mỹ", vượt mức trung bình của ASEAN. Trong đó, xuất khẩu trực tiếp chiếm 13,8%, còn xuất khẩu gián tiếp (thông qua quốc gia/khu vực thứ ba) chiếm 21,2%.
Ví dụ: trong ngành chế tạo, 58,2% doanh nghiệp trả lời "có xuất khẩu sang Hoa Kỳ". Đặc biệt, ở các ngành như Thiết bị điện/điện tử, Linh kiện thiết bị điện/điện tử, Linh kiện thiết bị vận tải, Sản phẩm nhựa,Thiết bị chính xác/y tế, tỷ lệ doanh nghiệp trả lời có xuất khẩu sang Mỹ vượt trên 70%.
Báo cáo còn thông tin thêm, trong số các thị trường hiện đang được chú trọng/đánh giá là triển vọng trong tương lai bởi các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam, Mỹ cũng nhận được nhiều ý kiến lựa chọn nhất, chỉ đứng sau Nhật Bản.
Trong bối cảnh lãi suất cho vay mua bất động sản tăng nhanh lên trên 11–13%, Chủ tịch Phát Đạt Nguyễn Văn Đạt cho rằng đây không chỉ là thách thức ngắn hạn mà còn là phép thử cần thiết để thị trường bước vào giai đoạn sàng lọc.
Giá vàng thế giới và trong nước liên tục phá vỡ các kỷ lục lịch sử, tạo rào cản lớn đối với dòng tiền đầu tư cá nhân, các doanh nghiệp kinh doanh vàng bạc đã chia nhỏ vàng xuống mức 0,05 - 0,1 chỉ, kết hợp với mô hình bán hàng trực tuyến để phục vụ khách hàng.
Theo cơ quan chức năng TP HCM, nhiều giao dịch mua bán nhà đất diễn ra khi tài sản chưa đủ pháp lý, tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp và thiệt hại cho người mua.
Nguồn cung nhà ở Hà Nội tiếp tục duy trì xu hướng dịch chuyển ra các khu vực vệ tinh. Theo chuyên gia, điều này không chỉ phản ánh chiến lược giãn dân và phát triển đô thị vệ tinh, mà còn cho thấy định hướng dài hạn của các chủ đầu tư trong việc đón đầu làn sóng dịch chuyển dân cư và nhu cầu ở thực.