Ảnh minh họa
Theo Bản tin Thị trường Nông, Lâm, Thủy sản số ngày 20/10 (Bộ Công Thương), số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, tháng 9/2026 cho thấy, xuất khẩu cao su đạt 142,37 nghìn tấn, trị giá 317,77 triệu USD, giảm 9,2% về lượng và 4,3% về trị giá so với tháng trước.
So với tháng 9/2025, lượng cao su xuất khẩu giảm 18,9%, nhưng trị giá tăng 5,3%. Đây là tháng thứ 6 liên tiếp lượng cao su xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 1,08 triệu tấn cao su, trị giá 2,19 tỷ USD, giảm 15,8% về lượng và 3,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Trong khi lượng xuất khẩu suy giảm, giá cao su xuất khẩu tiếp tục tăng. Giá bình quân tháng 9 đạt 2.232 USD/tấn, tăng 5,4% so với tháng 8 và tăng 29,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, giá xuất khẩu bình quân đạt 2.022 USD/tấn, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất của Việt Nam. Tuy nhiên, trong tháng 9, lượng xuất khẩu sang thị trường này chỉ đạt 79,73 nghìn tấn, trị giá 183,2 triệu USD, giảm lần lượt 14,6% và 8,3% so với tháng trước.
So với tháng 9/2025, xuất khẩu cao su sang Trung Quốc giảm 38,8% về lượng và 18,7% về trị giá, đánh dấu tháng thứ 7 liên tiếp lượng xuất khẩu sang thị trường này giảm so với cùng kỳ.
Giá xuất khẩu bình quân sang Trung Quốc đạt 2.298 USD/tấn, tăng 7,4% so với tháng trước và tăng 32,7% so với cùng kỳ năm 2025.
Lũy kế 9 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 635,77 nghìn tấn cao su, trị giá 1,28 tỷ USD, giảm 31,3% về lượng và 20,5% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
|
Thị trường |
Lượng tháng 9/2026 (tấn) |
Trị giá tháng 9/2026 (nghìn USD) |
Lượng so với tháng 9/2025 (%) |
Trị giá so với tháng 9/2025 (%) |
Lượng 9 tháng 2026 (tấn) |
Trị giá 9 tháng 2026 (nghìn USD) |
Lượng so với cùng kỳ 2025 (%) |
Trị giá so với cùng kỳ 2025 (%) |
Tỷ trọng lượng 9 tháng 2025 (%) |
Tỷ trọng lượng 9 tháng 2026 (%) |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
Trung Quốc |
79.729 |
183.204 |
-38,8 |
-18,7 |
635.773 |
1.287.517 |
-31,3 |
-20,5 |
71,67 |
58,47 |
|
Ấn Độ |
10.085 |
23.567 |
97,1 |
151,6 |
82.780 |
182.626 |
36,7 |
60,3 |
4,69 |
7,61 |
|
Malaysia |
8.513 |
14.216 |
35,4 |
71,9 |
55.559 |
86.372 |
52,1 |
72 |
2,83 |
5,11 |
|
Indonesia |
8.122 |
16.636 |
60 |
109,6 |
74.950 |
146.004 |
124 |
146,1 |
2,59 |
6,89 |
|
Đức |
4.780 |
11.346 |
16,6 |
49,3 |
18.491 |
41.650 |
-3 |
12 |
1,48 |
1,7 |
|
Hàn Quốc |
4.369 |
10.322 |
105,8 |
162,2 |
36.515 |
78.999 |
21,3 |
34,7 |
2,33 |
3,36 |
|
Thổ Nhĩ Kỳ |
3.290 |
7.071 |
72,7 |
124,9 |
19.918 |
41.847 |
9,4 |
25,4 |
1,41 |
1,83 |
|
Sri Lanka |
3.121 |
6.246 |
56,2 |
86,3 |
18.992 |
36.067 |
30,8 |
47 |
1,12 |
1,75 |
|
Mỹ |
2.812 |
6.250 |
3,7 |
29,4 |
17.894 |
36.397 |
-18,4 |
-10,3 |
1,7 |
1,65 |
|
Đài Loan |
1.880 |
4.457 |
34,2 |
69,7 |
17.972 |
39.303 |
16,6 |
28 |
1,19 |
1,65 |
Trái ngược với Trung Quốc, xuất khẩu cao su sang một số thị trường ghi nhận mức tăng mạnh trong tháng 9. Trong đó, xuất khẩu sang Ấn Độ đạt 10,08 nghìn tấn, tăng 97,1% so với cùng kỳ năm trước; Malaysia đạt 8,51 nghìn tấn, tăng 35,4% và Indonesia đạt 8,12 nghìn tấn, tăng 60%.
Xuất khẩu sang Đức, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Sri Lanka, Mỹ, Đài Loan, Pakistan, Mexico và Pháp cũng ghi nhận diễn biến tích cực. Ngược lại, xuất khẩu sang Nga, Italy, Tây Ban Nha, Canada, Hà Lan, Bangladesh, Bỉ và Argentina tiếp tục giảm mạnh so với tháng 9/2025.
Tính chung 9 tháng đầu năm, xuất khẩu cao su sang Trung Quốc giảm đáng kể, trong khi các thị trường Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Hàn Quốc và Nhật Bản ghi nhận tăng trưởng tích cực.
Diễn biến này cho thấy kết quả xuất khẩu cao su của Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng lớn từ nhu cầu của thị trường Trung Quốc, đồng thời đặt ra yêu cầu mở rộng thị trường tiêu thụ nhằm phân tán rủi ro.
Trong thời gian tới, triển vọng xuất khẩu cao su sẽ phụ thuộc vào diễn biến cung cầu, giá cao su thế giới và sức mua tại từng thị trường. Doanh nghiệp cần chủ động điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng các tiêu chuẩn nhập khẩu và tận dụng cơ hội tại những thị trường có nhu cầu ổn định, qua đó củng cố năng lực cạnh tranh và nâng cao hiệu quả xuất khẩu.
Phí chế biến tinh quặng đồng giao ngay đã rơi xuống mức âm sâu chưa từng có, đẩy các nhà máy luyện đồng Trung Quốc vào cảnh thua lỗ và buộc nhiều đơn vị chủ động giảm sản lượng, trong khi nguồn cung từ các mỏ lớn tại Chile tiếp tục thiếu hụt so với cùng kỳ.
Giá lúa gạo hôm nay điều chỉnh tăng 50 – 100 đồng/kg ở nhóm gạo nguyên liệu và giữ ổn định đối với các loại lúa tươi.
Giá gas trong nước hôm nay 21/10 tiếp tục đi ngang, các khu vực chưa ghi nhận thêm điều chỉnh sau những biến động trước đó trong tháng. Giá bình 12kg dao động từ 580.000 đến 609.000 đồng/bình, trong đó Đà Nẵng cao nhất và Cần Thơ thấp nhất, chênh lệch 29.000 đồng/bình.
Xuất khẩu tôm Việt Nam đạt 3,7 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng 11% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, đà tăng đang chậm lại khi xuất khẩu sang Mỹ và EU suy giảm, trong khi Trung Quốc tiếp tục là thị trường dẫn dắt tăng trưởng.