|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên ngày 24/9 |
Phiên ngày 23/9 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
141,40 |
144,40 |
142,50 |
145,50 |
-1.100 |
-1.100 |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
141,40 |
144,40 |
142,50 |
145,50 |
-1.100 |
-1.100 |
|
TP HCM |
141,40 |
144,40 |
142,50 |
145,50 |
-1.100 |
-1.100 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
141,40 |
144,40 |
142,20 |
145,50 |
-800 |
-1.100 |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
141,40 |
144,40 |
142,50 |
145,50 |
-1.100 |
-1.100 |
|
Hà Nội |
141,40 |
144,40 |
142,50 |
145,50 |
-1.100 |
-1.100 |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
141,40 |
144,40 |
142,30 |
146,30 |
-900 |
-1.900 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
142,20 |
143,70 |
143,50 |
145,00 |
-1.300 |
-1.300 |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng miếng SJC ngày 24/9 đồng loạt đi xuống, trong đó Bảo Tín Minh Châu có mức giảm mạnh nhất ở chiều bán ra.
SJC, Doji và PNJ cùng giảm 1,1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, về 141,4 triệu đồng/lượng mua vào và 144,4 triệu đồng/lượng bán ra.
Phú Quý giảm 800.000 đồng/lượng ở chiều mua và 1,1 triệu đồng/lượng ở chiều bán, niêm yết cùng mức giá trên.
Bảo Tín Minh Châu hạ lần lượt 900.000 đồng/lượng và 1,9 triệu đồng/lượng, cũng về 141,4 triệu đồng/lượng mua vào và 144,4 triệu đồng/lượng bán ra.
Mi Hồng giảm 1,3 triệu đồng/lượng ở mỗi chiều, còn 142,2 triệu đồng/lượng mua vào và 143,7 triệu đồng/lượng bán ra.
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên ngày 24/9 |
Phiên ngày 23/9 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
140,90 |
143,90 |
142,00 |
145,00 |
-1.100 |
-1.100 |
|
Tập đoàn Doji |
141,50 |
145,50 |
142,00 |
146,00 |
-500 |
-500 |
|
Tập đoàn Phú Quý |
141,40 |
144,40 |
142,20 |
145,20 |
-800 |
-800 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
141,40 |
144,40 |
142,50 |
145,50 |
-1.100 |
-1.100 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
141,60 |
145,60 |
142,30 |
146,30 |
-700 |
-700 |
|
Mi Hồng |
142,20 |
143,70 |
143,50 |
145,00 |
-1.300 |
-1.300 |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng nhẫn tròn trơn giảm tại toàn bộ thương hiệu được khảo sát, với Mi Hồng chịu mức điều chỉnh lớn nhất.
SJC giảm 1,1 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, còn 140,9 triệu đồng/lượng mua vào và 143,9 triệu đồng/lượng bán ra.
PNJ giảm tương ứng, xuống 141,4 triệu đồng/lượng mua vào và 144,4 triệu đồng/lượng bán ra.
Doji hạ 500.000 đồng/lượng, niêm yết 141,5 triệu đồng/lượng mua vào và 145,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Phú Quý giảm 800.000 đồng/lượng, về 141,4 triệu đồng/lượng mua vào và 144,4 triệu đồng/lượng bán ra.
Bảo Tín Minh Châu giảm 700.000 đồng/lượng, còn 141,6 triệu đồng/lượng mua vào và 145,6 triệu đồng/lượng bán ra.
Mi Hồng giảm 1,3 triệu đồng/lượng, xuống 142,2 triệu đồng/lượng mua vào và 143,7 triệu đồng/lượng bán ra.
Ảnh minh hoạ: Minh Thư
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên ngày 24/9 |
Phiên ngày 23/9 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
138,4 |
142,9 |
139,5 |
144 |
-1.100 |
-1.100 |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
140,2 |
144,2 |
140,7 |
144,7 |
-500 |
-500 |
|
TP HCM |
140,2 |
144,2 |
140,7 |
144,7 |
-500 |
-500 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
138,50 |
143,50 |
139,50 |
144,50 |
-1.000 |
-1.000 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
138,40 |
143,40 |
139,50 |
144,50 |
-1.100 |
-1.100 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
139,60 |
144,60 |
140,30 |
145,30 |
-700 |
-700 |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng 24K dùng làm nữ trang quay đầu giảm trên diện rộng, mạnh nhất tại SJC và PNJ với mức giảm 1,1 triệu đồng/lượng.
SJC niêm yết giá mua vào 138,4 triệu đồng/lượng và bán ra 142,9 triệu đồng/lượng sau khi giảm 1,1 triệu đồng ở mỗi chiều.
PNJ cũng hạ 1,1 triệu đồng/lượng, còn 138,4 triệu đồng/lượng mua vào và 143,4 triệu đồng/lượng bán ra.
Phú Quý giảm 1 triệu đồng/lượng, về 138,5 triệu đồng/lượng mua vào và 143,5 triệu đồng/lượng bán ra.
Doji giảm 500.000 đồng/lượng, xuống 140,2 triệu đồng/lượng mua vào và 144,2 triệu đồng/lượng bán ra.
Bảo Tín Minh Châu hạ 700.000 đồng/lượng, còn 139,6 triệu đồng/lượng mua vào và 144,6 triệu đồng/lượng bán ra.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên ngày 24/9 |
Phiên ngày 23/9 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
97,536 |
107,336 |
98,361 |
108,161 |
-825 |
-825 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
97,65 |
107,55 |
98,48 |
108,38 |
-830 |
-830 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
96,00 |
99,00 |
96,50 |
99,50 |
-500 |
-500 |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 11h30. (Tổng hợp: Minh Thư)
Giá vàng 18K cùng chiều đi xuống, song mức giảm tại ba thương hiệu chênh lệch rõ rệt.
PNJ giảm 830.000 đồng/lượng ở cả chiều mua và bán, niêm yết lần lượt 97,65 triệu đồng/lượng và 107,55 triệu đồng/lượng.
SJC hạ 825.000 đồng/lượng ở mỗi chiều, còn 97,536 triệu đồng/lượng mua vào và 107,336 triệu đồng/lượng bán ra.
Mi Hồng giảm 500.000 đồng/lượng, đưa giá mua vào về 96 triệu đồng/lượng và giá bán ra còn 99 triệu đồng/lượng.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay tiếp tục giảm 0,17% xuống 4.279,30 USD/ounce theo Kitco; tương tự, giá vàng giao tháng 10 cũng giảm xuống 4.279,20 USD/ounce, ghi nhận vào lúc 13h40.
Quy đổi theo giá USD của ngân hàng Vietcombank (26.200 đồng), giá vàng thế giới tương đương 135,1 triệu đồng/lượng, thấp hơn 9,3 triệu đồng/lượng so với giá vàng trong nước.
Từ 15h hôm nay, mỗi lít xăng, dầu cùng tăng 280-1.450 đồng, theo đà biến động của thị trường năng lượng thế giới.
Ủy ban Chống bán phá giá Australia (ADC) ngày 9/9 đã khởi xướng điều tra xem xét tiếp tục duy trì biện pháp chống bán phá giá đối với thép mạ kẽm nhập khẩu từ Ấn Độ, Malaysia và Việt Nam.
Thị trường vonfram thế giới vừa trải qua một trong những cú sốc giá mạnh nhất trong lịch sử hàng hóa hiện đại. Nhưng đằng sau con số tăng giá ấn tượng là một bài toán cung - cầu phức tạp mà tiền bạc đơn thuần không thể giải quyết.
Giá lúa gạo hôm nay điều chỉnh tăng nhẹ ở nhóm phụ phẩm, đồng thời ổn định đối với gạo và lúa tươi. Xuất khẩu gạo của Ấn Độ chỉ tăng 2,17%, lên 4,81 tỷ USD trong giai đoạn tháng 4 đến tháng 8/2026, do xung đột tại Trung Đông làm gián đoạn các tuyến vận tải biển, đồng thời đẩy chi phí cước vận chuyển và bảo hiểm tăng cao.