|
Vàng miếng SJC |
Khu vực |
Phiên hôm nay 4/3 |
Phiên hôm 3/3 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
181,20 |
184,20 |
185,20 |
188,20 |
-4.000 |
-4.000 |
|
Hệ thống Doji |
Hà Nội |
181,20 |
184,20 |
185,20 |
188,20 |
-4.000 |
-4.000 |
|
TP HCM |
181,20 |
184,20 |
185,20 |
188,20 |
-4.000 |
-4.000 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
181,20 |
184,20 |
185,20 |
188,20 |
-4.000 |
-4.000 |
|
Cửa hàng vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
TP HCM |
181,20 |
184,20 |
185,20 |
188,20 |
-4.000 |
-4.000 |
|
Hà Nội |
181,20 |
184,20 |
185,20 |
188,20 |
-4.000 |
-4.000 |
|
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
181,20 |
184,20 |
185,20 |
188,20 |
-4.000 |
-4.000 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
181,50 |
184,20 |
185,50 |
188,20 |
-4.000 |
-4.000 |
Vàng miếng tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 13h35. (Tổng hợp: Du Y)
Đến khoảng 13h35 chiều 4/3, giá vàng miếng SJC tại các doanh nghiệp lớn tiếp tục suy giảm mạnh, nới rộng khoảng cách so với mức đỉnh vừa thiết lập trước đó.
Khảo sát tại Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC), Tập đoàn Doji, Phú Quý, PNJ, Bảo Tín Minh Châu và Mi Hồng cho thấy giá vàng miếng đồng loạt giảm thêm 4 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào – bán ra.
Theo đó, giá mua vào lùi về vùng 181,2–181,5 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra phổ biến ở mức 184,2 triệu đồng/lượng. Với mức giá hiện tại, vàng miếng SJC đã giảm khoảng 6,7 triệu đồng/lượng so với đỉnh kỷ lục 190,9 triệu đồng/lượng được ghi nhận trước đó.
|
Vàng nhẫn tròn trơn |
Phiên hôm nay 4/3 |
Phiên hôm 3/3 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
|
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
|||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
180,90 |
183,90 |
184,90 |
187,90 |
-4.000 |
-4.000 |
|
Tập đoàn Doji |
181,20 |
184,20 |
185,20 |
188,20 |
-4.000 |
-4.000 |
|
Tập đoàn Phú Quý |
181,20 |
184,20 |
185,20 |
188,20 |
-4.000 |
-4.000 |
|
Vàng bạc đá quý Phú Nhuận |
181,20 |
184,20 |
185,10 |
188,10 |
-3.900 |
-3.900 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
182,00 |
185,00 |
185,20 |
188,20 |
-3.200 |
-3.200 |
|
Mi Hồng |
181,50 |
184,20 |
185,50 |
188,20 |
-4.000 |
-4.000 |
Vàng nhẫn trơn tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 13h35. (Tổng hợp: Du Y)
Đà điều chỉnh mạnh của vàng miếng nhanh chóng lan sang phân khúc vàng nhẫn tròn trơn, với mức giảm sâu tại nhiều hệ thống kinh doanh lớn.
Cụ thể, tại Công ty SJC, Tập đoàn Doji, Phú Quý và hệ thống Mi Hồng, giá vàng nhẫn tròn trơn cùng giảm 4 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều giao dịch. Sau điều chỉnh, giá tại SJC còn 180,9–183,9 triệu đồng/lượng; Doji và Phú Quý lùi về 181,2–184,2 triệu đồng/lượng; Mi Hồng niêm yết quanh 181,5–184,2 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, hệ thống PNJ hạ 3,9 triệu đồng/lượng mỗi chiều, đưa giá về mức 181,2–184,2 triệu đồng/lượng.
Riêng hệ thống Bảo Tín Minh Châu điều chỉnh giảm 3,2 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, xuống còn 182–185 triệu đồng/lượng. Mức giá này hiện vẫn cao hơn vàng miếng SJC tại một số doanh nghiệp.
Ảnh minh hoạ: Du Y.
|
Vàng nữ trang 24K |
Khu vực |
Phiên hôm nay 4/3 |
Phiên hôm 3/3 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
178,90 |
182,40 |
182,90 |
186,40 |
-4.000 |
-4.000 |
|
Tập đoàn Doji |
Hà Nội |
180,00 |
184,00 |
184,00 |
188,00 |
-4.000 |
-4.000 |
|
TP HCM |
180,00 |
184,00 |
184,00 |
188,00 |
-4.000 |
-4.000 |
|
|
Tập đoàn Phú Quý |
Hà Nội |
179,00 |
183,00 |
184,00 |
188,00 |
-5.000 |
-5.000 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
179,00 |
183,00 |
183,40 |
187,40 |
-4.400 |
-4.400 |
|
Bảo Tín Minh Châu |
Toàn quốc |
180,00 |
184,00 |
183,20 |
187,20 |
-3.200 |
-3.200 |
Vàng 24K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 13h35. (Tổng hợp: Du Y)
Không nằm ngoài xu hướng chung, nhóm vàng nữ trang 24K chiều nay tiếp tục ghi nhận mức điều chỉnh đáng kể.
Tại Công ty SJC và Tập đoàn Doji, giá vàng 24K cùng giảm thêm 4 triệu đồng/lượng cho cả hai chiều giao dịch, lần lượt xuống 178,9–182,4 triệu đồng/lượng và 180–184 triệu đồng/lượng.
Hệ thống PNJ điều chỉnh giảm 4,4 triệu đồng/lượng mỗi chiều, kéo giá về quanh 179–183 triệu đồng/lượng.
Hệ thống Bảo Tín Minh Châu hạ 3,2 triệu đồng/lượng theo hai chiều, còn 180–184 triệu đồng/lượng.
Đáng chú ý, Tập đoàn Phú Quý là đơn vị có mức điều chỉnh mạnh nhất trong nhóm này khi giảm tới 5 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều, đưa giá về 179–183 triệu đồng/lượng.
|
Vàng nữ trang 18K |
Khu vực |
Phiên hôm nay 4/3 |
Phiên hôm 3/3 |
Chênh lệch |
|||
|
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
Mua vào |
Bán ra |
||
|
Đơn vị tính: Triệu đồng/lượng |
Đơn vị tính: Nghìn đồng/lượng |
||||||
|
Vàng bạc đá quý Sài Gòn |
TP HCM |
128,06 |
136,96 |
131,06 |
139,96 |
-3.000 |
-3.000 |
|
Hệ thống PNJ |
TP HCM |
128,35 |
137,25 |
131,65 |
140,55 |
-3.300 |
-3.300 |
|
Mi Hồng |
TP HCM |
118,50 |
125,50 |
121,00 |
128,00 |
-2.500 |
-2.500 |
Vàng 18K tại các hệ thống cửa hàng được khảo sát vào lúc 13h35. (Tổng hợp: Du Y)
Phân khúc vàng nữ trang 18K cũng duy trì xu hướng điều chỉnh giảm mạnh trong phiên chiều nay.
Ghi nhận tại Công ty SJC, hệ thống PNJ và Mi Hồng cho thấy giá vàng 18K lần lượt giảm 3 triệu đồng/lượng, 3,3 triệu đồng/lượng và 2,5 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều mua – bán.
Sau điều chỉnh, giá giao dịch tại SJC về mức 128,06–136,96 triệu đồng/lượng; PNJ niêm yết 128,35–137,25 triệu đồng/lượng; Mi Hồng còn 118,5–125,5 triệu đồng/lượng.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay tăng 1,27% lên 5.152 USD/ounce theo Kitco, trong khi giá vàng giao tháng 4 tăng 0,78% lên 5.163 USD/ounce, ghi nhận vào lúc 13h47.
Quy đổi theo giá USD của ngân hàng Vietcombank (26.304 đồng), giá vàng thế giới tương đương 163,2 triệu đồng/lượng, thấp hơn 21 triệu đồng/lượng so với giá vàng trong nước.
Trước khi Mỹ và Israel ném bom Iran, các chuyên gia năng lượng đã phác thảo kịch bản xấu nhất đối với thị trường dầu mỏ: hoạt động vận chuyển qua eo biển Hormuz bị đình trệ, đồng thời Iran trả đũa nhằm vào các cảng, nhà máy lọc dầu và các cơ sở khí đốt trên khắp vùng Vịnh.
Giá gạo trên thị trường thế giới có xu hướng tăng trong tháng đầu năm 2026. Trong khi đó, xuất khẩu gạo của Việt Nam trong tháng 1/2026 đạt 651.430 tấn, tăng 24,7% so với tháng trước và tăng 22,1% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu sang Philippines phục hồi trở lại, trong khi Trung Quốc và Malaysia đều tăng mạnh.
Tổng công ty cho biết đã nhập được 2 chuyến LNG giá rẻ và gia tăng sản xuất LPG trong nước, khẳng định vẫn đang đảm bảo đủ nguồn cung phục vụ sản xuất.
Theo nguồn tin của Reuters, Iraq đã cắt giảm sản lượng dầu gần 1,5 triệu thùng/ngày và mức cắt giảm này có thể mở rộng lên hơn 3 triệu thùng/ngày trong vài ngày tới khi nước này dần cạn dung lượng lưu trữ và không thể xuất khẩu dầu thô do khủng hoảng liên quan đến Iran.