Trong nửa đầu năm 2026, theo thống kê củaTechcom Securities (TCBS), tiền gửi khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất tuy nhiên tăng chậm (chỉ tăng chưa đầy 6%),vốn liên ngân hàng (chiếm 18,6%) tăng 5,9% trong khi đó các cấu phần khác như giấy tờ có giá (chiếm 9,8%) tăng gần gấp đôi và tiền gửi Kho bạc Nhà nước tăng 45%.
Theo báo cáo từ TCBS, tiền gửi khách hàng tăng 5,5% từ đầu năm — bằng 6/10 tốc độ tín dụng — CASA lùi về 20,2% và lãi suất huy động cao nhất kỳ hạn 12 tháng đã lên 7,5%: chi phí vốn đang là ràng buộc lớn nhất của nửa cuối năm.
Tiền gửi tăng tốc rõ rệt trong quý II nhưng vẫn chưa theo kịp tín dụng và cuộc đua huy động phân hóa mạnh giữa các ngân hàng. Toàn ngành huy động thêm 614.000 tỷ đồng riêng trong quý II (tăng 4,8% so với quý I) sau quý I gần như đi ngang (tăng 0,6%), đưa số dư lên 13,4 triệu tỷ đồng — tăng 5,5% từ đầu năm và 12,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, tốc độ này vẫn thấp hơn mức 9% của tín dụng.
Nguồn: TCBS
Có tới 20/26 ngân hàng có tiền gửi tăng chậm hơn dư nợ và khoảng cách 3,5 điểm % giữa hai tốc độ là nguồn gốc của áp lực thanh khoản hiện nay.
TCBS cũng chỉ ra rằng mức độ phụ thuộc vào tiền gửi dân cư phân hóa theo mô hình kinh doanh.
Nhóm ngân hàng nhỏ và thiên về bán lẻ gần như huy động toàn bộ từ dân cư: KienlongBank (95,6%), Bac A Bank (94,8%), NCB (89,6%), VietABank (87,5%) và BVBank (86,0%) — nên nguồn vốn ổn định nhưng chi phí cao và ít CASA.
Nguồn: TCBS.
Ngược lại, khối quốc doanh và các ngân hàng bán buôn có tỷ trọng cá nhân chỉ quanh một nửa — MSB 46,9%, VietinBank 48,1%, Vietcombank 48,7%, BIDV 49,9%, TPBank 55,2% — nhờ nền tiền gửi doanh nghiệp, Kho bạc và tổ chức lớn. Đây cũng là nhóm hưởng lợi trực tiếp từ quy định mới cho tính tiền gửi kỳ hạn của Kho bạc vào huy động khi xác định LDR.
TCBS Research đánh giá cơ cấu này khó thay đổi trong ngắn hạn: tiền gửi dân cư sẽ tiếp tục đổ vào hệ thống khi lãi suất kỳ hạn hấp dẫn, còn tiền gửi doanh nghiệp phụ thuộc vào nhịp giải ngân đầu tư công và dòng tiền của các dự án lớn trong nửa cuối năm.
Chi phí huy động đã tăng gần 2 điểm % trong nửa năm và đang ở mức cao nhất kể từ giữa 2023. Lãi suất huy động cao nhất kỳ hạn 6–12 tháng chạm đáy 4,9% vào quý III/2024, đi ngang quanh 5,5% suốt năm 2025, rồi tăng dốc từ 5,7% cuối 2025 lên 6,5% trong quý I và 7,4% trong quý II/2026; đến đầu tháng 8, mức cao nhất thị trường đã là 7,5% — chỉ còn cách đỉnh 8,7% của đợt căng thanh khoản 2022–2023 hơn 1 điểm %.
Đà tăng này phản ánh trực tiếp khoảng cách giữa cầu vốn và nguồn vốn khi tín dụng tăng 9% từ đầu năm trong khi tiền gửi chỉ tăng 5,5%, buộc các ngân hàng, nhất là nhóm không có lợi thế CASA, phải trả giá cao hơn để giữ và thu hút nguồn.
TCBS Research nhận định chi phí huy động sẽ tiếp tục neo ở mức cao và đi ngang trong nửa cuối năm thay vì hạ nhiệt: nhu cầu vốn cho tín dụng vẫn lớn khi các ngân hàng được cấp thêm hạn mức và các dự án lớn bước vào giai đoạn giải ngân, trong khi huy động chưa theo kịp đà tăng của tín dụng.
Các yếu tố hỗ trợ — tiền gửi Kho bạc quay lại hệ thống theo tiến độ đầu tư công, quy định LDR mới và điều phối "không đua lãi suất" của Ngân hàng Nhà nước — chỉ đủ để chặn đà tăng thêm chứ khó kéo mặt bằng xuống; vì thế NIM nửa cuối năm sẽ được quyết định bởi khả năng chuyển chi phí vốn cao hơn sang lãi suất cho vay và nhóm ngân hàng có CASA cao cùng nền tiền gửi dân cư rộng sẽ giữ được lợi thế rõ nhất.
Khi tiền gửi tăng chậm hơn tín dụng và tỷ trọng cho vay dài hạn đi lên, kênh vốn trung dài hạn này trở thành lựa chọn chính của các ngân hàng tư nhân lớn.Giấy tờ có giá đã tăng gần gấp đôi trong hai năm lên 1,96 triệu tỷ đồng và chiếm 9,8% tổng huy động.
Số dư của 26 ngân hàng đạt 1,96 triệu tỷ đồng cuối quý II/2026, tăng 16,7% từ đầu năm và 23,6% so với cùng kỳ — gấp ba lần tốc độ 5,5% của tiền gửi khách hàng và gần gấp đôi quý II/2024; tỷ trọng trong tổng huy động tăng từ 7,3% lên 9,8% trong hai năm.
18/26 ngân hàng tăng số dư từ đầu năm; riêng BID, ACB, VPB và MBB đóng góp gần chín phần mười mức tăng 280 nghìn tỷ đồng của toàn ngành.
Mức độ dựa vào giấy tờ có giá phân hóa rõ theo mô hình kinh doanh. Nhóm tư nhân lớn cho vay trung dài hạn nhiều dùng kênh này mạnh nhất: OCB, ACB và TCB đều trên 20% tổng huy động, MBB 15,5%, VPB 13,5%; ACB và VPB nâng tỷ trọng thêm 3–6 điểm % chỉ trong 6 tháng.
Khối quốc doanh đi hai hướng: BID tăng 33,9% lên 302 nghìn tỷ đồng, số dư lớn nhất hệ thống, trong khi CTG giảm 17,8% và VCB giữ tỷ trọng rất thấp 1,7% nhờ tiền gửi khách hàng và tiền gửi Kho bạc dồi dào.
Nguồn: TCBS.
Kênh phát hành chạy ở cả hai phân khúc: trái phiếu kỳ hạn dài cho tổ chức và chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn cho cá nhân.
Trái phiếu ngân hàng bùng nổ từ tháng 6 và chiếm gần như toàn bộ thị trường trái phiếu doanh nghiệp: tháng 7 phát hành khoảng 35,6 nghìn tỷ đồng trong tổng 41 nghìn tỷ toàn thị trường (Agribank 15 nghìn tỷ trái phiếu công chúng 10 năm, HDB 7,1 nghìn tỷ), 25 ngày đầu tháng 8 thêm 23,9 nghìn tỷ.
Lãi suất phát hành cao hơn khoảng 2 điểm % so với cuối 2025 — khối quốc doanh 7,9–8,2%/năm, khối tư nhân 8,6– 10% — tức cao hơn tiết kiệm 12 tháng 1–3 điểm %.
Ở phân khúc bán lẻ, chứng chỉ tiền gửi 1–12 tháng bán qua ứng dụng không bị áp trần lãi suất kỳ hạn dưới 6 tháng: VPB chào 9%/năm, TCB 8%, NAB 7,9%, VCB và CTG 7,5%, cao hơn tiết kiệm cùng kỳ hạn 0,9–2,8 điểm %.
TCBS Research đánh giá giấy tờ có giá sẽ tiếp tục tăng nhanh hơn tiền gửi trong nửa cuối năm, và vì đây là nguồn vốn đắt nhất trong cơ cấu huy động, chi phí vốn toàn ngành sẽ còn neo cao.
Vốn liên ngân hàng đạt 3,7 triệu tỷ đồng và chiếm 18,6% tổng huy động; lãi suất liên ngân hàng đã hạ nhiệt mạnh từ vùng đỉnh đầu năm sau ba bước nới LDR và các đợt bơm ròng của NHNN và TCBS Research kỳ vọng tiếp tục giảm về cuối năm dù kỳ hạn dài vẫn neo cao.
Nguồn: TCBS.
Theo các nhà phân tích của TCBS, liên ngân hàng là kênh bù đắp nhanh nhất cho khoảng cách tín dụng – tiền gửi, nhưng đà tăng đã chậm lại trong nửa đầu 2026. Tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác của 26 ngân hàng đạt 3,70 triệu tỷ đồng cuối quý II, tăng 46,1% so với cùng kỳ nhưng chỉ 5,9% từ đầu năm — phần lớn mức tăng dồn vào nửa cuối 2025; tỷ trọng trong tổng huy động lên 18,6% từ 15,3%.
Vietcombank, VietinBank và VPBank huy động thêm 53.000 - 84.000 tỷ đồng từ đầu năm, trong khi Sacombank thu hẹp 42,3%.
Nguồn: TCBS
Xét vị thế ròng, khối quốc doanh là bên cho vay ròng (Vietcombank tăng 215.000 tỷ đồng, BIDV tăng 86.000 tỷ đồng, VietinBank tăng 81.000 tỷ), còn VPBank (giảm 149.000 tỷ), MB (giảm 111.000 tỷ) và Techcombank (giảm 79.000 tỷ) là những người đi vay ròng lớn nhất — nhóm có tỷ trọng vốn liên ngân hàng 16–28% và nhạy nhất với lãi suất thị trường 2.
Cuối cùng là nguồn vốn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước. Đây là lợi thế nguồn vốn riêng của khối quốc doanh: số dư có kỳ hạn tại bốn ngân hàng quốc doanh đạt 716 nghìn tỷ đồng cuối quý II, tăng 45% từ đầu năm, và từ 11/08/2026 được tính 50% vào nguồn huy động khi tính LDR.
TCBS Research đánh giá tiền gửi Kho bạc sẽ giúp nhóm quốc doanh tăng tốc giải ngân trong nửa cuối năm, nhưng đây là lợi thế chuyển tiếp hơn là cấu trúc. Trong ngắn hạn, VCB, BID và CTG có thêm dư địa LDR và không phải chạy đua lãi suất huy động, nên đủ điều kiện hoàn thành hạn mức tín dụng mới với chi phí vốn tăng chậm hơn mặt bằng.
Về dài hạn, số dư Kho bạc phụ thuộc tiến độ chi ngân sách — đầu tư công dồn vào cuối năm và thuế gia hạn nộp về tháng 11–12 — và Kho bạc có quyền rút trước hạn. Vì vậy đây là van điều tiết thanh khoản và lợi thế chi phí vốn trong 2026, chứ không phải nguồn vốn dài hạn cho tín dụng trung dài hạn.
Nguồn: TCBS.