Kết thúc tuần qua, giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên dao động trong khoảng 96.400 – 97.900 đồng/kg, tăng 2.800 – 3.000 đồng/kg so với tuần trước.
Cụ thể, tại Đắk Nông, giá cà phê tăng 2.900 đồng/kg và được thu mua ở mức cao nhất khu vực là 97.900 đồng/kg.
Giá cà phê tại Đắk Lắk cũng tăng 2.900 đồng/kg, trong khi Gia Lai ghi nhận mức tăng 3.000 đồng/kg. Hiện cả hai địa phương cùng giao dịch quanh mức 97.700 đồng/kg.
Riêng Lâm Đồng ghi nhận mức tăng 2.800 đồng/kg, lên 96.400 đồng/kg, thấp nhất trong khu vực.
|
Thị trường |
Trung bình |
Thay đổi so với tuần trước |
|
Đắk Lắk |
97.700 |
+2.900 |
|
Lâm Đồng |
96.400 |
+2.800 |
|
Gia Lai |
97.700 |
+3.000 |
|
Đắk Nông |
97.900 |
+2.900 |
|
Tỷ giá USD/VND |
25.750 |
-10 |
Đơn vị tính: VNĐ/kg
Tỷ giá theo ngân hàng Vietcombank
Trên sàn London, giá cà phê trực tuyến robusta hợp đồng giao kỳ hạn tháng 3/2026 đóng cửa tuần qua ở mức 3.859 USD/tấn, tăng 2,8% (104 USD/tấn) so với tuần trước. Hợp đồng giao kỳ hạn tháng 5/2026 tăng 0,93% (35 USD/tấn), đạt 3.800 USD/tấn.
Trên sàn giao dịch New York, giá cà phê arabica giao kỳ hạn tháng 03/2026 cũng tăng 1,2% (3,5 US cent/pound) trong tuần qua, chạm mốc 300,05 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 5/2026 tăng 3,1% (9 US cent/pound), đạt 298,3 US cent/pound.
Theo báo cáo của Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO), lượng hàng tồn kho đạt chuẩn trên các sàn giao dịch vẫn ở mức thấp kỷ lục, chỉ bằng khoảng một nửa so với mức trung bình 5 năm, tiếp tục làm gia tăng lo ngại về nguồn cung thắt chặt và hỗ trợ mức giá cao của chỉ số I-CIP.
Lượng tồn kho robusta đạt chuẩn trên sàn London giảm 2,7% và kết thúc tháng 1 ở mức 0,7 triệu bao. Ngược lại, tồn kho arabica đạt chuẩn tại Mỹ tăng lên 0,48 triệu bao, tương đương mức tăng 9,7% so với tháng 12/2025.
ICO cho biêt lượng cà phê dự trữ của các nhà rang xay vẫn chủ yếu là ngắn hạn, nhiều người chỉ mua khi cần thiết. Mức giá giao ngay cao khiến việc xây dựng kho dự trữ dài hạn bị hạn chế, vì người mua cho rằng giá cà phê ở mức cao vẫn có thể được mua sau này nếu cần.
Điều này được phản ánh rõ qua hiện tượng nghịch đảo (backwardation) của thị trường kỳ hạn, làm nổi bật tình trạng khan hiếm nguồn cung gần đây và củng cố mức chênh lệch giá cao cho hàng giao ngay.
Backwardation là trạng thái thị trường khi giá giao ngay của một loại hàng hóa cao hơn giá giao trong tương lai, tạo nên đường cong giá kỳ hạn đảo ngược. Tình trạng này thường cho thấy nhu cầu tức thời cao, thiếu hụt nguồn cung hoặc rủi ro địa chính trị, khiến các nhà giao dịch sẵn sàng trả thêm phí để được giao hàng ngay. Cấu trúc này tiếp tục hạn chế động lực lưu kho và hỗ trợ tích cực cho giá ngắn hạn.
Cũng theo ICO, xuất khẩu cà phê toàn cầu trong tháng 12/2025 tăng 10,50% so với cùng kỳ năm 2024, đạt tổng cộng 11,9 triệu bao. Lũy kế trong ba tháng đầu niên vụ hiện tại (tháng 10/2025 đến tháng 9/2026) xuất khẩu cà phê toàn cầu tăng 5,5% so với cùng kỳ niên vụ trước, đạt 33,8 triệu bao.
Báo cáo cho thấy xuất khẩu từ Nam Mỹ trong tháng 12 đã giảm mạnh 15% so với cùng kỳ năm 2024, xuống còn 4,65 triệu bao. Trong đó, Brazil – nguồn cung xuất khẩu chính của khu vực – ghi nhận mức giảm 18,5% so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu từ Trung Mỹ và Mexico, với các nước xuất khẩu arabica chế biến ướt truyền thống gồm Costa Rica, Guatemala, Honduras, Nicaragua và El Salvador tăng 81,3%, đạt tổng cộng 820.000 bao.
Trong khi đó, xuất khẩu từ châu Á tăng mạnh 38,4% so với cùng kỳ năm 2024, đạt tổng cộng 5,15 triệu bao. Động lực chính đến từ Việt Nam với mức tăng 29,7%, đạt 3,43 triệu bao. Mức tăng này cho thấy sự phục hồi về sản lượng và sự hỗ trợ từ lượng tồn kho chuyển tiếp, giúp sản lượng trở lại gần mức bình thường trong năm nay sau ba niên vụ liên tiếp thấp hơn mức trung bình.
Trong báo cáo, ICO cũng ghi nhận xuất khẩu từ châu Phi tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước, đạt 1,32 triệu bao trong tháng 12. Mức tăng chủ yếu đến từ arabica Ethiopia và robusta Uganda – hai quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu trong khu vực.
Giá tiêu hôm nay (15/2) tại thị trường trong nước dao động ở mức 148.500 – 151.000 đồng/kg, tăng nhẹ 500 đồng/kg so với ngày hôm qua và so với cùng thời điểm tuần trước. Trên thị trường thế giới, giá tiêu Indonesia cũng có xu hướng phục hồi, trong khi Brazil lại quay đầu giảm.
BSR đã chủ động vận hành an toàn, hiệu quả nhà máy lọc dầu Dung Quất ở công suất tối ưu và tổ chức hoạt động xuyên Tết để góp phần đảm bảo ổn định nguồn cung cho thị trường cao điểm Tết Nguyên đán.
Khép lại tuần giao dịch 9/2–14/2, thị trường vàng trong nước ghi nhận xu hướng điều chỉnh giảm sau giai đoạn tăng mạnh trước đó. Vàng miếng SJC, vàng nhẫn tròn trơn và vàng nữ trang đồng loạt suy yếu, song giá bán ra vẫn neo ở vùng cao, quanh mốc 181 triệu đồng/lượng.
Mặt bằng lãi suất nhích lên, thị trường chứng khoán điều chỉnh và giá vàng biến động mạnh đang đặt nhà đầu tư trước bài toán phân bổ tài sản trong giai đoạn đầu năm 2026.