Nỗi ám ảnh về việc eo biển Hormuz (yết hầu vận chuyển dầu mỏ của thế giới) bị phong tỏa hoàn toàn đã đẩy tâm lý lo ngại lên mức rất cao.
Tuy nhiên, nếu nhìn sâu vào cấu trúc vận tải dầu mỏ hiện đại và các chính sách kinh tế vĩ mô cốt lõi của Mỹ, một bức tranh hoàn toàn khác sẽ hiện ra.
Bài viết này sẽ phân tích chi tiết vì sao thế giới sẽ không phải đối mặt với một cú sốc giá dầu tồi tệ, nhờ vào hàng chục tỷ USD đã được đổ vào các hệ thống đường ống trên bộ để né tránh các điểm nóng xung đột, kết hợp cùng sức ép điều tiết giá năng lượng từ chiến lược kinh tế của Washington và tình trạng dư thừa nguồn cung trên toàn cầu.
Eo biển Hormuz từ lâu đã được xem là tuyến đường thủy quan trọng nhất hành tinh đối với an ninh năng lượng. Hàng ngày, hàng chục triệu thùng dầu thô được các siêu tàu chở dầu vận chuyển qua eo biển chật hẹp này để tỏa đi khắp các châu lục.
Do đó, khi tin tức về việc Mỹ và các đồng minh, điển hình là Israel có thể kéo dài thời gian xung đột nhằm đạt được mục tiêu thay đổi chính phủ mới tại Iran, thế giới ngay lập tức mường tượng ra kịch bản tồi tệ nhất. Đó là việc Iran sẽ sử dụng sức mạnh quân sự để phong tỏa hoàn toàn eo biển này.
Tuy nhiên, rủi ro về kịch bản địa chính trị này khả năng khó có thể kéo dài. Các chiến dịch quân sự hiện đại của Mỹ thường được thiết kế theo dạng có mục tiêu cụ thể, tấn công chính xác vào các cơ sở quân sự trọng yếu hoặc các tổ chức đầu não, tuyệt đối tránh tàn phá diện rộng hoặc hạn chế nhắm vào hạ tầng dân sự, kinh tế.
Mục đích của cách đánh này là tạo áp lực tối đa trong thời gian ngắn, qua đó thúc đẩy quá trình hạ nhiệt chiến sự làm giảm bớt mức độ nghiêm trọng của cuộc xung đột để sớm quay lại bàn đàm phán hoặc thiết lập trật tự mới.
Nếu một cuộc đối đầu diễn ra chóng vánh, đối phương sẽ không có đủ thời gian hoặc tiềm lực để duy trì việc phong tỏa eo biển Hormuz quá lâu.
Nguy cơ Hormuz bị đóng cửa không phải là một câu chuyện mới. Từ nhiều thập kỷ trước, các quốc gia Arab vùng Vịnh đã nhận thức được tử huyệt này và âm thầm triển khai một chiến lược sinh tồn. Đó là việc xây dựng các đại công trình đường ống dẫn dầu băng qua sa mạc, đưa dầu mỏ tiến thẳng ra các vùng biển an toàn mà không cần tàu bè phải đi qua yết hầu Hormuz.
Đây được gọi là hệ thống hạ tầng đường vòng, tạo ra một năng lực vận tải khổng lồ lên tới hơn 12 triệu thùng mỗi ngày (theo định mức lý thuyết).
Arab Saudi - quốc gia xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới đã đầu tư mạnh mẽ cho Tuyến đường ống Đông Tây hay còn gọi là Petroline. Trải dài 1.200 km từ trung tâm xử lý dầu mỏ khổng lồ Abqaiq ở phía đông, tuyến ống này vắt ngang qua bán đảo Arab để đưa dầu thô đến các cảng xuất khẩu tại Yanbu, nằm hiền hòa bên bờ Biển Đỏ.
Mới đây, một dự án nâng cấp trị giá 250 triệu USD đã thành công nâng công suất của Petroline lên mức 7 triệu thùng/ngày (đơn vị đo lường lượng dầu vận chuyển hoặc khai thác trong một ngày). Điều này mang lại cho thủ đô Riyadh một sự linh hoạt rất lớn về mặt hậu cần. Ngay cả khi Vịnh Ba Tư bị phong tỏa, một nửa sản lượng xuất khẩu của Arab Xê Út vẫn có thể an toàn rời cảng
Không kém cạnh người láng giềng, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) đã đưa vào vận hành Tuyến đường ống Dầu thô Abu Dhabi (ADCOP) từ hơn một thập kỷ trước.
Với công suất đạt 1,5 triệu thùng/ngày, ADCOP đảm nhận nhiệm vụ vận chuyển vàng đen từ các mỏ sâu trong nội địa thẳng đến cảng Fujairah, một cảng nước sâu chiến lược nằm hoàn toàn bên ngoài eo biển Hormuz, tiếp giáp trực tiếp với Vịnh Oman.
Không dừng lại ở đó, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Abu Dhabi (ADNOC) đang tiếp tục xúc tiến xây dựng một tuyến đường ống mới từ cảng Jebel Dhanna đến Fujairah.
Khi dự án này hoàn thành vào năm 2027, tổng năng lực bơm dầu trên bộ của UAE sẽ được nhân đôi, giúp quốc gia này chủ động hơn trong khả năng miễn nhiễm với các lệnh phong tỏa đường thủy
Ngay cả bản thân Iran, quốc gia nắm giữ vị trí địa lý có thể đe dọa eo biển Hormuz, cũng tự xây dựng cho mình một lối thoát dự phòng. Đó là tuyến đường ống Goreh Jask.
Bắt đầu hoạt động vào mùa hè năm 2021, dự án này được thiết kế để vận chuyển dầu từ tỉnh Khuzestan vươn ra tận Vịnh Oman. Mặc dù công suất lý thuyết được kỳ vọng đạt 1 triệu thùng/ngày, dữ liệu thực tế cho thấy lưu lượng hiện tại mới chỉ lẹt đẹt ở mức 300.000 đến 350.000 thùng/ngày.
Việc thiếu hụt khách hàng sẵn sàng mua dầu từ Iran trong bối cảnh cấm vận và xung đột là nguyên nhân chính khiến hạ tầng này chưa thể hoạt động hết công suất
Trong bức tranh cơ sở hạ tầng đa dạng này, Iraq nổi lên như một mắt xích yếu ớt và dễ bị tổn thương nhất. Gần như toàn bộ nền kinh tế của Baghdad phụ thuộc vào việc xuất khẩu dầu thô qua các trạm bơm nằm sâu trong Vịnh Ba Tư.
Về mặt lý thuyết, Iraq có một lối thoát hiểm đắt giá là tuyến đường ống Kirkuk Ceyhan dẫn sang lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ, kết hợp với các tuyến ống song song do Chính quyền Khu vực Kurdistan quản lý. Nút thắt này có thể giải phóng khoảng 1,2 triệu thùng/ngày.
Tuy nhiên, hàng loạt các tranh chấp gay gắt về chính trị, quyền chia sẻ lợi nhuận và các rào cản pháp lý đã khiến tuyến đường ống này phải ngừng hoạt động. Chừng nào những bất đồng nội bộ chưa được giải quyết, Iraq vẫn sẽ là nạn nhân lớn nhất nếu một cuộc phong tỏa đường biển nổ ra.
Nhìn chung, khi chiến tranh nổ ra và eo biển bị đóng cửa, áp lực tiếp nhận tàu bè sẽ dồn toàn bộ lên hạ tầng cảng tại Biển Đỏ và Vịnh Oman. Việc đảm bảo hoạt động của các đội tàu xuất phát từ Fujairah, Yanbu và Jeddah sẽ là cửa ra chiến lược chính xác nhất để đảm bảo giải thành công bài toán năng lượng thế giới.
Yếu tố thứ hai và cũng là một rào cản cực lớn ngăn chặn đà tăng của giá dầu đến từ chính nội các của nước Mỹ.
Dưới thời Tổng thống Donald Trump, Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent đã hình thành nên chiến lược kinh tế mang tính định hình với tên gọi Kế hoạch 3/3/3.
Cấu trúc của học thuyết này dựa trên ba trụ cột chính bao gồm việc kéo giảm thâm hụt ngân sách chính phủ xuống mức 3%, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng đạt mốc 3% và đặc biệt nhất là gia tăng sản lượng khai thác năng lượng nội địa thêm 3 triệu thùng dầu mỗi ngày.
Mục tiêu quan trọng của việc bơm thêm hàng triệu thùng dầu ra thị trường là để đánh sập mặt bằng giá năng lượng. Bằng cách định hướng và hạ giá nhiên liệu, Mỹ mong muốn cắt giảm chi phí vận hành cho toàn bộ khối doanh nghiệp sản xuất, từ đó kiểm soát lạm phát tận gốc.
Bên cạnh đó là mục tiêu tăng trưởng kinh tế 3%, Bessent cũng định hướng rõ ràng khi tạo nên một tín hiệu chính sách bền vững để nhà đầu tư yên tâm đầu tư dài hạn và giảm chi phí cho doanh nghiệp (giảm giá dầu cũng là một trong những động thái giúp giảm chi phí doanh nghiệp).
Chính vì sự hiệu quả của kế hoạch 3/3/3 phụ thuộc rất lớn vào nguồn năng lượng giá rẻ, nước Mỹ và các đồng minh sẽ làm mọi cách để bảo vệ các mỏ dầu trên toàn cầu.
Mọi hành động tấn công trực tiếp vào cơ sở sản xuất hoặc bến cảng xuất khẩu dầu mỏ của Iran hay các quốc gia Arab đều bị xem là điều cấm kỵ và phải hạn chế tối đa. Việc phá hủy hạ tầng năng lượng sẽ dẫn đến đứt gãy chuỗi cung ứng dài hạn, đẩy giá dầu vút bay và trực tiếp bóp nghẹt chiến lược phục hồi kinh tế của Washington.
Lịch sử đã chứng minh điều này qua cuộc xung đột giữa Israel và Iran vào mùa hè năm 2025. Dù tiếng súng vang lên, giá dầu chỉ spike (hiện tượng giá cả nhảy dựng lên một mức rất cao chỉ trong thời gian ngắn) rồi nhanh chóng rơi rụng trở lại trạng thái cũ chỉ sau vài ngày, hoàn toàn vì các giếng dầu không mảy may sứt mẻ.
Khi bóc tách lớp vỏ tin tức chiến sự, chúng ta cũng cần nhìn vào yếu tố cơ bản, những số liệu thực tế phản ánh quy luật cung cầu cốt lõi của thị trường và hạn chế ảnh hưởng bởi tâm lý nhất thời. Trong năm 2026, nền tảng cơ bản của thị trường dầu mỏ mang một màu sắc khá ảm đạm và được định hình bởi hai chữ dư cung.
Sự dư thừa này bắt nguồn từ sự đình trệ của các cỗ máy kinh tế lớn nhất thế giới. Trung Quốc (công xưởng của nhân loại) đang trải qua giai đoạn phục hồi kinh tế chậm chạp và kéo dài tình trạng do tình hình trade war Trung - Mỹ khiến nhu cầu tiêu thụ năng lượng giảm sút.
Ngoài ra còn là các toán tính chiến lược trong việc tái cơ cấu nguồn năng lượng từ Trung Quốc tập trung hơn vào hệ thống điện năng (xe điện, điện năng lượng tái tạo, …)
Trong khi đó, tại bờ bên kia bán cầu, người dân Mỹ và Châu Âu đang phải thắt lưng buộc bụng để đối phó với môi trường lãi suất cao kéo dài. Hoạt động công nghiệp thu hẹp, giao thương suy giảm khiến nhu cầu đốt nhiên liệu lao dốc.
Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến cái bóng khổng lồ của liên minh OPEC (Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ) và các đối tác.
Trong nhiều năm qua, khối này đã liên tục thực hiện các thỏa thuận cắt giảm sản lượng tự nguyện để giữ giá dầu không bị sập. Hệ quả là họ tích lũy được một lượng công suất dự phòng (khối lượng hàng hóa mà một nhà máy hoặc quốc gia có thể lập tức sản xuất thêm bằng cách huy động máy móc đang để không).
Đứng đầu là Arab Saudi với khả năng mở van bơm 3 triệu thùng dầu/ngày bổ sung ra thị trường ngay lập tức nếu thế giới thiếu hụt còn tổng công suất cả khối là 5 triệu thùng/ngày.
Sự kết hợp giữa nhu cầu yếu ớt và công suất dự phòng khổng lồ tạo ra một tấm nệm giảm xóc cực dày cho thị trường năng lượng.
Khi có tin tức chiến tranh xuất hiện, tâm lý đám đông sẽ tạo ra một mức risk premium (phần bù rủi ro khoản tiền chênh lệch tăng thêm mà người mua phải trả do nỗi sợ hãi về một tương lai gián đoạn nguồn cung).
Các đợt tăng giá này được gọi là geopolitical rally (đợt tăng giá do địa chính trị là sự đi lên của thị trường được thúc đẩy hoàn toàn bởi các biến cố chính trị, quân sự thay vì sự khan hiếm hàng hóa thật sự).
Thế nhưng, quy luật của thị trường chứng minh rằng những đợt tăng giá dựa trên nỗi sợ hãi thường rất ngắn hạn và chỉ diễn ra trong vài ngày hoặc vài tuần.
Khi giới đầu cơ nhận ra dòng chảy dầu thô vẫn êm đềm chảy qua các đường ống xuyên sa mạc và các giếng dầu vẫn bình an vô sự, yếu tố cơ bản về sự dư thừa hàng hóa sẽ nắm lại quyền kiểm soát.
Lúc này, thị trường sẽ chứng kiến một cú pullback (kéo giá giảm lại là hiện tượng giá cả xì hơi và trượt dài về lại ngưỡng giá trị thực ban đầu sau một đợt tăng nóng).
Nguy cơ Iran tấn công hạ tầng năng lượng Vùng Vịnh hiện hữu nhưng mang tính kiềm chế cao
Tính đến ngày 3/3, tình hình Iran tấn công hạ tầng dầu (như các nhà máy lọc dầu, tàu dầu, …) vẫn ở mức gián đoạn tạm thời do các biện pháp phòng ngừa tại Ras Tanura hay Qatar, khiến giá dầu tăng nhưng chưa bền vững, phần đa các cuộc tấn công vào hạ tầng dầu là của Iran. Tuy nhiên, các cuộc tấn công này đa số cũng chỉ sử dụng drone mà không phải tên lửa gây thiệt hại hạn chế và trong tầm kiểm soát. Ví dụ:
Ras Tanura refinery (Saudi Arabia): Có cháy nhỏ do mảnh vỡ từ drone bị bắn hạ nhưng lửa được dập nhanh, thiệt hại hạn chế, không có thương vong. Không ảnh hưởng lớn đến sản xuất dầu thô tổng thể.
Qatar: Bị drone tấn công vào energy facility và power plant và không có báo cáo phá hủy vĩnh viễn
UAE: Jebel Ali power Bị tấn công drone gây thiệt hại hạn chế, không có báo cáo hủy diệt hoàn toàn diện rộng
Nguyên nhân tới từ lợi ích sát sườn của đồng minh Iran lớn nhất là Trung Quốc. Quốc gia này hiện là đầu mua dầu lớn nhất của Iran khi chiếm tỷ trọng từ hơn 90% tổng lượng xuất khẩu (Trong 6 tháng đầu năm nay, Trung Quốc đã mua trung bình 1,38 triệu thùng dầu mỗi ngày từ Iran.
Năm ngoái, lượng dầu Iran mà Trung Quốc mua trung bình là 1,48 triệu thùng mỗi ngày, tương đương khoảng 14,6% tổng lượng nhập khẩu của Trung Quốc).
Tuy nhiên Bắc Kinh cũng nhập khẩu lượng đặc biệt lớn từ nguồn cung dầu thô và LNG (khí thiên nhiên hóa lỏng) của toàn bộ khu vực Vùng Vịnh bao gồm Arab Saudi, Qatar và UAE. Một cuộc tấn công lớn gây đình trệ hoạt động kéo dài tại các hạ tầng dầu (lọc dầu, …) của đồng minh Mỹ sẽ khiến giá năng lượng toàn cầu tăng vọt, gây hại trực tiếp cho kinh tế Trung Quốc và khan hiếm nguồn cung.
Do đó, Bắc Kinh cũng chính là một trong những lý do lớn dẫn tới Iran giữ mức độ tấn công phản ứng mang tính biểu tượng vào hạ tầng dầu để tránh các gián đoạn lớn.
Nếu Iran đẩy mạnh tấn công, họ sẽ mất đi sự hỗ trợ từ Trung Quốc vốn là yếu tố sống còn để lách các lệnh trừng phạt kinh tế và duy trì doanh thu dầu mỏ cũng như là một trong những nguồn dựa vào tại thời điểm chiến sự hiện nay. Trong khi đó, nền kinh tế Iran hiện nay đang phụ thuộc rất lớn vào dầu.
Bên cạnh đó là rủi ro phản ứng mạnh từ các quốc gia Vùng Vịnh khi Saudi Arabia, UAE và Qatar coi tấn công hạ tầng dầu là lằn ranh đỏ. Mọi hành động phá hoại sẽ bị đáp trả trực tiếp bằng không kích hoặc tên lửa vào các hạ tầng trọng yếu của Iran như đảo Kharg.
Sự leo thang này dẫn đến trạng thái phá hủy lẫn nhau trong khi Iran ở vị thế bất lợi vì hạ tầng đã cũ kỹ còn đối phương thì được Mỹ bảo vệ.
Kịch bản này cũng mời gọi Mỹ và Israel tấn công trực diện vào nguồn cung dầu của Tehran để cắt đứt hoàn toàn lượng xuất khẩu khoảng 1,6 triệu bpd (thùng mỗi ngày), đẩy nhanh khủng hoảng chế độ và thay đổi chế độ mà các đời tổng thống Mỹ muốn nhắm tới.
Iran cũng đang tránh rơi vào thế sử dụng vũ khí cuối cùng (hạ tầng dầu) rồi mất trắng do thua thiệt về quân sự trước Mỹ (Hạm đội 5 chưa có báo cáo chính thức về động thái tham chiến).
Mục đích chính của Tehran vẫn đang là gây áp lực kinh tế để buộc các bên sớm đàm phán hoặc đưa ra giải pháp tình thế. Việc tấn công hạn chế có thể là đã đủ hiệu quả mà không cần đẩy đến tận thế dầu mỏ.
Nếu tấn công ồ ạt, hành động này có thể phản tác dụng khi khiến khối GCC (Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh) đoàn kết hơn và mời gọi sự can thiệp quân sự sâu hơn từ Mỹ cũng như mất nguồn doanh thu dầu mỏ dài hạn của Iran tại đây.
Tổng hợp lại toàn bộ dữ kiện từ việc sở hữu hệ thống hạ tầng đường vòng trị giá hàng chục tỷ đô la, sự kiên định trong chính sách kinh tế ép giá năng lượng của Bộ Tài chính Mỹ cho đến tình trạng dư thừa hàng hóa ngập tràn trên toàn cầu, chúng ta có một cơ sở khá vững chắc để đưa ra dự phóng cho năm 2026.
Cho dù xung đột tại Trung Đông có bùng phát và dẫn đến những xáo trộn tạm thời, thì một cuộc khủng hoảng siêu chu kỳ của giá dầu là điều khá khó xảy ra. Nếu các hệ thống ống dẫn dầu bơm thẳng ra Vịnh Oman và Biển Đỏ hoạt động trơn tru như kỳ vọng hoặc nếu hạm đội của Mỹ và NATO quyết tâm hộ tống các tàu dầu, nguồn cung năng lượng toàn cầu gần như sẽ không sứt mẻ.
Mức giá chuẩn của dầu Brent trong năm 2026 được dự báo sẽ neo quanh mốc 60 USD/thùng. Bất kỳ một đợt tăng giá bất ngờ nào do tâm lý lo sợ chiến tranh cũng sẽ sớm bị thị trường kéo giảm lại về vùng giá cân bằng từ 70 đến 80 USD. Bức tranh năng lượng hiện đại đã không còn dễ bị bắt cóc bởi những lời đe dọa phong tỏa truyền thống, mở ra một kỷ nguyên mới nơi sức mạnh của cơ sở hạ tầng và định hướng kinh tế vĩ mô làm chủ cuộc chơi.
Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả
Nút thắt lớn nhất trong việc đảm bảo nguồn khi thiếu hụt nguồn cung trong nước chính là giá xăng dầu phải đảm bảo được tính đúng, tính đủ để thương nhân đầu mối không bị lỗ.
Nhiều chuyên gia dự báo với tình hình thị trường hiện nay, giá heo hơi có thể vẫn duy trì đà giảm trong thời gian tới.
Giá lúa gạo hôm nay (4/3) tại thị trường trong nước tăng giảm trái chiều so với ngày hôm trước. Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu giảm nhẹ 1–2 USD/tấn, còn giá của các nước khác vẫn duy trì ổn định.
Trước khi Mỹ và Israel ném bom Iran, các chuyên gia năng lượng đã phác thảo kịch bản xấu nhất đối với thị trường dầu mỏ: hoạt động vận chuyển qua eo biển Hormuz bị đình trệ, đồng thời Iran trả đũa nhằm vào các cảng, nhà máy lọc dầu và các cơ sở khí đốt trên khắp vùng Vịnh.