Ngày 4/6/2026, giá gas trên cả nước tiếp tục duy trì ổn định và không có thay đổi đáng kể so với các đợt điều chỉnh trước đó.
Tại Miền Bắc, Hà Nội và Hải Phòng đều niêm yết giá gas bình 12kg ở mức 578.664 đ, trong khi bình 48kg lần lượt là 2.314.656 đ và 2.350.944 đ. Việc giá bình 48kg ở Hải Phòng cao hơn Hà Nội phản ánh chi phí vận chuyển và phân phối giữa các tỉnh, dù mức chênh lệch không lớn.
Chuyển về Miền Trung, Đà Nẵng duy trì giá bình 12kg ở mức 567.000 đ và bình 48kg 2.183.000 đ, thấp hơn miền Bắc, cho thấy sự cân bằng giữa nguồn cung và nhu cầu sử dụng năng lượng tại khu vực này.
Ngược lại, Miền Nam ghi nhận giá gas bình 12kg tại TP. Hồ Chí Minh 592.000 đ, bình 48kg 2.364.000 đ, cao hơn so với miền Bắc và miền Trung, trong khi tại Cần Thơ, giá bình 12kg là 555.000 đ và bình 48kg 2.220.000 đ, phản ánh sự đa dạng về chi phí vận chuyển, lưu kho và mức tiêu thụ ở từng tỉnh thành.
Tùy thuộc vào khu vực và thương hiệu, giá gas bán lẻ hiện tại có sự chênh lệch rõ rệt. Chẳng hạn, giá gas Petrolimex hôm nay tại Hà Nội đối với bình 12kg được niêm yết là 578.664 đồng.
|
Ngày 04/06/2026 |
Chênh lệch |
||||
|
Khu vực |
Bình 12kg |
Bình 48kg |
Bình 12kg |
Bình 48kg |
|
|
Miền Bắc |
Hà Nội |
578.664 |
2.314.656 |
- |
- |
|
Hải Phòng |
578.664 |
2.350.944 |
- |
- |
|
|
Miền trung |
Đà Nẵng |
567.000 |
2.183.000 |
- |
- |
|
Miền Nam |
TP HCM |
592.000 |
2.364.000 |
- |
- |
|
Cần Thơ |
555.000 |
2.220.000 |
- |
- |
|
Bảng giá gas từng khu vực ngày 4/6/2026 được cập nhật lúc 10h20. (Tổng hợp: Gia Ngọc)
Ngày 4/6/2026, giá gas trên thị trường bán lẻ theo thương hiệu tiếp tục duy trì ổn định, nhưng vẫn ghi nhận sự chênh lệch giữa các nhà cung cấp lớn.
Cụ thể, tại Hà Nội, Petrolimex niêm yết bình 12 kg ở mức 578.664 đ, trong khi bình 48 kg dùng cho công nghiệp là 2.314.656 đ, thấp hơn đáng kể so với các thương hiệu khác.
Ngược lại, SAIGON PETRO và Pacific Petro có mức giá cao hơn, lần lượt là 639.500 đ và 682.000 đ cho bình 12 kg, đồng thời bình 45 kg cũng dao động từ 2.399.000 đ đến 2.528.000 đ, phản ánh chi phí phân phối và chiến lược định giá riêng của từng công ty.
Trong khi đó, PV GAS thể hiện sự khác biệt theo khu vực. Tại Hà Nội, bình 12 kg được bán với giá 610.204 đ, bình 45 kg 2.288.265 đ, còn tại TP. HCM, giá bình 12 kg là 672.081 đ và bình 45 kg 2.520.274 đ. Sự chênh lệch này cho thấy ảnh hưởng từ chi phí vận chuyển, lưu kho và nhu cầu tiêu thụ tại từng vùng.
Nhìn chung, mặc dù giá gas giữ ổn định, nhưng mức chênh lệch giữa các thương hiệu và khu vực vẫn rõ rệt, tạo điều kiện cho người tiêu dùng lựa chọn theo nhu cầu và khả năng chi trả.
|
Ngày 04/06/2026 |
Chênh lệch |
||||||
|
Thương hiệu |
Khu vực |
Bình 12kg |
Bình 45kg |
Bình 48 kg (gas công nghiệp) |
Bình 12kg |
Bình 45kg |
Bình 48 kg (gas công nghiệp) |
|
Petrolimex |
Hà Nội |
578.664 |
- |
2.314.656 |
- |
- |
- |
|
SAIGON PETRO |
639.500 |
2.399.000 |
- |
- |
- |
- |
|
|
Pacific Petro |
682.000 |
2.528.000 |
- |
- |
- |
- |
|
|
PV GAS |
Hà Nội |
610.204 |
2.288.265 |
- |
- |
- |
- |
|
TP HCM |
672.081 |
2.520.274 |
- |
- |
- |
- |
|
Bảng giá gas theo thương hiệu ngày 4/6/2026 được cập nhật lúc 10h20. (Tổng hợp: Gia Ngọc)
Theo oilprice, theo dữ liệu mới nhất từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) công bố hôm thứ Tư, lượng dự trữ dầu thô tại Mỹ đã giảm 8 triệu thùng trong tuần kết thúc ngày 29 tháng 5. Sự giảm này đưa lượng dự trữ thương mại xuống còn 433,7 triệu thùng, theo số liệu của chính phủ, thấp hơn 3% so với mức trung bình 5 năm vào thời điểm này trong năm.
Dữ liệu do EIA công bố được đưa ra sau khi API công bố số liệu một ngày trước đó, cho thấy lượng tồn kho dầu thô đã giảm 6,75 triệu thùng trong giai đoạn này.
Giá dầu thô đang tăng trong phiên giao dịch sáng sớm. Vào lúc 7:12 sáng giờ New York, dầu Brent được giao dịch ở mức 98,24 đô la/thùng—tăng 2,21 đô la (+2,30%) trong ngày và tăng 1,50 đô la/thùng so với cùng kỳ tuần trước. Dầu WTI cũng tăng trong ngày, tăng 2,13 đô la/thùng (+2,27%) trong phiên giao dịch sáng sớm, đạt mức 95,99 đô la.
Theo báo cáo của EIA, đối với tổng lượng xăng động cơ, lượng tồn kho đã tăng 3,4 triệu thùng sau khi giảm 2,6 triệu thùng trong tuần trước đó. Số liệu mới nhất cho thấy sản lượng xăng trung bình hàng ngày giảm xuống còn 9,4 triệu thùng. Đối với các sản phẩm chưng cất trung gian, lượng tồn kho tăng 1,5 triệu thùng khi sản lượng tăng lên mức trung bình 5,2 triệu thùng mỗi ngày. Lượng tồn kho sản phẩm chưng cất hiện thấp hơn 3% so với mức trung bình năm năm.
Tổng lượng sản phẩm được cung cấp—một chỉ số phản ánh nhu cầu dầu mỏ của Mỹ—trung bình đạt 20,4 triệu thùng mỗi ngày trong bốn tuần qua, tăng 3,0% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhu cầu xăng trung bình đạt 8,8 triệu thùng mỗi ngày trong bốn tuần qua, trong khi lượng cung cấp nhiên liệu chưng cất trung bình trong bốn tuần đạt 3,6 triệu thùng—tăng 1,2% so với cùng kỳ năm ngoái.
Ảnh: Gia Ngọc
Thép Việt Úc mới đây thông báo giảm giá bán thép xây dựng.
Giá bạc hôm nay 4/6 tiếp tục giảm mạnh tại các thương hiệu lớn như Phú Quý, Ancarat và Sacombank, với bạc thỏi điều chỉnh 1,28–1,6 triệu đồng/kg. Giá bạc thế giới giao dịch quanh 73 USD/ounce, chịu áp lực từ lạm phát cao và căng thẳng Trung Đông, khiến xu hướng giảm tiếp tục chi phối thị trường kim loại quý.
Giá tiêu hôm nay tại thị trường trong nước duy trì ổn định quanh mốc 136.000 - 139.000 đồng/kg. Trên thị trường thế giới, giá tiêu của các quốc gia sản xuất hàng đầu cũng chủ yếu đi ngang, riêng Indonesia quay đầu giảm.
Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), trong tháng 5, giá heo hơi trong nước có xu hướng tăng so với tháng 4, dao động trong khoảng 66.000 - 71.000 đồng/kg.