Theo khảo sát, giá tiêu sáng nay tại các địa phương sản xuất trọng điểm tiếp tục tăng thêm 500 – 1.000 đồng/kg so với ngày hôm trước, dao động trong khoảng 137.500 - 141.000 đồng/kg.
Trong đó, Đắk Lắk và Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) cùng tăng 1.000 đồng/kg, lên 141.000 đồng/kg, tiếp tục là hai địa phương có giá thu mua cao nhất cả nước.
Tại các địa phương còn lại, giá tiêu đồng loạt tăng 500 đồng/kg. Cụ thể, giá thu mua tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) nâng lên 138.500 đồng/kg, Đồng Nai ở mức 138.000 đồng/kg và Gia Lai đạt 137.500 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 17/7 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
141.000 |
+1.000 |
|
Gia Lai |
137.500 |
+500 |
|
Đắk Nông |
141.000 |
+1.000 |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
138.500 |
+500 |
|
Bình Phước |
138.000 |
+500 |
|
Đồng Nai |
138.000 |
+500 |
Trên thị trường xuất khẩu, giá tiêu tại các quốc gia sản xuất chủ chốt vẫn duy trì ổn định, không ghi nhận biến động mới.
Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam lần lượt được chào bán ở mức 5.850 USD/tấn và 5.950 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.
Tại Indonesia, giá tiêu đen tiếp tục được niêm yết ở mức 7.079 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 vẫn có giá 5.900 USD/tấn, còn Malaysia duy trì ở mức 9.350 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 17/7 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
7.079 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.900 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.350 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.850 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.950 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia giữ ổn định ở mức 9.198 USD/tấn. Tại Việt Nam và Malaysia, tiêu trắng lần lượt được báo giá ở mức 8.200 USD/tấn và 12.250 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 17/7 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.198 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.250 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
8.200 |
- |
Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, theo thống kê từ Cục Hải quan, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong tháng 6/2026 đạt 24,1 nghìn tấn, trị giá 160,6 triệu USD, giảm 3,9% về lượng và giảm 3,7% về trị giá so với tháng 5/2026, nhưng tăng 3,6% về lượng và tăng 2,1% về trị giá so với tháng 6/2025.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam đạt 146 nghìn tấn, trị giá 950,17 triệu USD, tăng 18,5% về lượng và tăng 12,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Giá bình quân xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong tháng 6/2026 đạt 6.659 USD/tấn, tăng nhẹ 0,2% so với tháng 5/2026, nhưng giảm 1,5% so với tháng 6/2025. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, giá bình quân xuất khẩu đạt 6.508 USD/ tấn, giảm 5,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Về thị trường, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong tháng 6/2026 sang nhiều thị trường ghi nhận mức tăng trưởng tích cực so với cùng kỳ năm ngoái như: Hoa Kỳ, Đức, Ấn Độ, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất. Đặc biệt, xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ tăng khoảng 4 lần cả về lượng và trị giá, phản ánh nhu cầu nhập khẩu tăng mạnh tại thị trường này. Ngược lại, xuất khẩu sang các thị trường Thái Lan, Ai Cập, Philippines và Pakistan giảm so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu hạt tiêu lớn nhất của Việt Nam với 36,04 nghìn tấn, chiếm 24,7% tổng lượng xuất khẩu, tăng so với mức 23,5% của cùng kỳ năm 2025. Xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ tăng 24,5% về lượng và tăng 18,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025, tiếp tục khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng quan trọng của xuất khẩu hạt tiêu Việt Nam.
Bên cạnh Hoa Kỳ, nhiều thị trường ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng trong nửa đầu năm như Thổ Nhĩ Kỳ (tăng 117,6% về lượng), Thái Lan (tăng 90,9%), Hà Lan (tăng 50%), Ai Cập (tăng 46,4%), Pakistan (tăng 23,8%) và Philippines (tăng 21,5%).
Những kết quả này cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang từng bước mở rộng thị phần tại nhiều khu vực ngoài các thị trường truyền thống, góp phần đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu sang một số thị trường lớn vẫn suy giảm đáng kể. Trong đó, xuất khẩu tới Đức giảm 18,8% về lượng, Ấn Độ giảm 30,8% và Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất giảm 30,9% so với cùng kỳ năm trước.
Theo nhận định của Cục Xuất nhập khẩu, nhìn chung, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ lượng xuất khẩu tăng và nhu cầu từ nhiều thị trường lớn được cải thiện.
Tuy nhiên, giá bình quân xuất khẩu vẫn ở mức thấp hơn so với cùng kỳ năm trước, phản ánh áp lực từ nguồn cung toàn cầu ngày càng dồi dào. Trong bối cảnh này, việc nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển chế biến sâu, đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững và mở rộng thị trường xuất khẩu sẽ là yếu tố quan trọng giúp ngành hạt tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng và nâng cao giá trị xuất khẩu trong thời gian tới.
Giá cao su kỳ hạn tại Nhật Bản giảm trở lại sau ba phiên tăng liên tiếp, khi nguồn cung mùa cao điểm và giá dầu đi xuống gây sức ép lên thị trường.
Giá dầu thô phục hồi trong phiên sáng ngày thứ Sáu (17/7) sau khi giảm khoảng 1% vào hôm trước nhưng vẫn duy trì gần mức cao nhất kể từ giữa tháng 6, trong bối cảnh xung đột giữa Mỹ và Iran tiếp tục leo thang.
Giá thép và quặng sắt giảm nhẹ nhưng vẫn neo quanh vùng đỉnh gần một tháng, giữa lúc lo ngại nguồn cung toàn cầu thắt chặt gia tăng khi công nhân của tập đoàn khai khoáng BHP (Australia) tiến hành đình công.
Giá cà phê hôm nay quay đầu giảm mạnh, với robusta mất tới 114 USD/tấn và arabica lao dốc 4,33%. Nguyên nhân chủ yếu do đồng USD mạnh lên so với đồng real Brazil, hoạt động chốt lời của các nhà đầu tư và kỳ vọng nguồn cung từ Brazil sẽ gia tăng khi vụ thu hoạch được đẩy nhanh.