Trong tuần qua, thị trường hồ tiêu trong nước không ghi nhận biến động, với giá thu mua tại các vùng trồng trọng điểm duy trì trong khoảng 136.000 – 139.000 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có giá cao nhất, ở mức 139.000 đồng/kg, theo sau là Đắk Lắk với 138.000 đồng/kg. Tại Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh), giá tiêu cùng được thu mua quanh mức 136.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 23/8 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với tuần trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
138.000 |
- |
|
Gia Lai |
136.000 |
- |
|
Đắk Nông |
139.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
136.000 |
- |
|
Bình Phước |
136.000 |
- |
|
Đồng Nai |
136.000 |
- |
Trên thị trường thế giới, giá tiêu cũng không ghi nhận biến động mới trong suốt tuần qua.
Dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) cho thấy, hiện tiêu đen Indonesia đang được giao dịch ở mức 6.851 USD/tấn, trong khi tiêu đen ASTA 570 của Brazil có giá 5.900 USD/tấn và Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.
Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu vẫn dao động trong khoảng 5.990 – 6.050 USD/tấn đối với các chủng loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 23/8 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với tuần trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.851 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.900 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.990 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.050 |
- |
Trên thị trường tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia tiếp tục ổn định ở mức 9.380 USD/tấn. Tại Việt Nam và Malaysia, giá tiêu trắng lần lượt được báo giá ở mức 8.400 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 23/8 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.380 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
8.400 |
- |
Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) cho biết, theo ITC, trong tháng 6/2026, Ấn Độ nhập khẩu 3.165 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 22,4 triệu USD, tăng mạnh 34,8% về lượng và 45,5% về giá trị so với tháng 5/2026, nhưng giảm 9,3% so với cùng kỳ tháng 6/2025. Đây là mức nhập khẩu cao nhất trong 6 tháng đầu năm 2026, cho thấy hoạt động nhập khẩu đã phục hồi đáng kể trong tháng 6 sau khi chỉ đạt 2.348 tấn vào tháng 5.
Việt Nam tiếp tục là nguồn cung hồ tiêu lớn nhất cho Ấn Độ trong tháng 6/2026 với 1.244 tấn, chiếm 39,3% tổng lượng nhập khẩu. So với tháng 5, nhập khẩu từ Việt Nam giảm nhẹ 3,8%, nhưng tăng 2,7% so với tháng 6/2025. Như vậy, trong bối cảnh tổng nhập khẩu của Ấn Độ vẫn thấp hơn cùng kỳ, lượng nhập khẩu từ Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng và giữ vị trí dẫn đầu.
Đáng chú ý nhất là Sri Lanka, với lượng cung cấp trong tháng 6 đạt 943 tấn, tăng tới 171,0% so với tháng 5, nhưng vẫn giảm 8,7% so với cùng kỳ năm trước. Sri Lanka chiếm 29,8% tổng lượng nhập khẩu trong tháng và là động lực chính khiến nhập khẩu hồ tiêu của Ấn Độ tăng mạnh so với tháng 5.
Nhập khẩu từ Brazil cũng tăng đáng kể, đạt 639 tấn, tăng 77,5% so với tháng trước, song giảm 33,3% so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, Indonesia cung cấp 250 tấn, tăng 30,2% so với tháng 5 và tăng 2,9% so với cùng kỳ.
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, Ấn Độ nhập khẩu 13.062 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 90,4 triệu USD, giảm mạnh 39,5% về lượng và 40,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Nhập khẩu biến động tương đối lớn qua các tháng, từ 2.120 tấn tháng 1 xuống 1.679 tấn tháng 2, tăng lên 2.102 tấn tháng 3, giảm còn 1.648 tấn tháng 4, sau đó phục hồi lên 2.348 tấn tháng 5 và đạt 3.165 tấn trong tháng 6.
Việt Nam là nguồn cung lớn nhất trong nửa đầu năm với 5.189 tấn, chiếm 39,7% tổng lượng nhập khẩu, nhưng giảm 24,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Sri Lanka đứng thứ hai với 4.036 tấn, chiếm 30,9% và giảm 45,6%. Indonesia cung cấp 1.610 tấn, chiếm 12,3%, giảm 41,1%; Brazil đạt 1.561 tấn, chiếm 12,0% và giảm mạnh 56,7%. Như vậy, cả bốn nguồn cung lớn đều giảm so với cùng kỳ, phản ánh sự suy giảm khá rõ của nhu cầu nhập khẩu Hồ tiêu của Ấn Độ trong nửa đầu năm.
Về xuất khẩu, trong tháng 6/2026, Ấn Độ xuất khẩu 1.512 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 10,9 triệu USD, giảm 14,9% về lượng và 11,9% về giá trị so với tháng 5/2026 và giảm 5,2% về lượng so với cùng kỳ tháng 6/2025.
Xét về thị trường, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất của Ấn Độ trong tháng 6 với 755 tấn, chiếm 49,9% tổng lượng xuất khẩu. Lượng xuất khẩu sang Mỹ tăng 7,4% so với tháng 5 và tăng 7,2% so với tháng 6/2025. Diễn biến này cho thấy Mỹ vẫn là thị trường chủ lực và duy trì nhu cầu tương đối tích cực đối với hồ tiêu Ấn Độ.
Ngược lại, xuất khẩu sang Nga giảm mạnh xuống còn 77 tấn, giảm 49,7% so với tháng 5 và giảm 43,8% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 5,1% tổng xuất khẩu. Anh nhập khẩu 109 tấn, giảm 9,2% so với tháng trước và giảm 11,4% so với tháng 6/2025, chiếm 7,2%. Sự suy giảm tại Nga, Anh và một số thị trường khác đã khiến tổng xuất khẩu tháng 6 giảm mặc dù xuất khẩu sang Mỹ vẫn tăng.
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, Ấn Độ xuất khẩu 9.680 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 67,3 triệu USD, giảm 5,9% về lượng và 6,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Xuất khẩu trong nửa đầu năm biến động khá rõ, đạt 1.630 tấn tháng 1, tăng lên 1.722 tấn tháng 2, sau đó đạt 1.700 tấn tháng 3, giảm xuống 1.339 tấn tháng 4, phục hồi lên 1.777 tấn tháng 5 trước khi giảm còn 1.512 tấn trong tháng 6.
Mỹ tiếp tục giữ vị trí thị trường lớn nhất trong 6 tháng đầu năm với 3.849 tấn, chiếm 39,8% tổng lượng xuất khẩu, mặc dù giảm 10,4% so với cùng kỳ năm 2025. Nga đứng tiếp theo với 696 tấn, chiếm 7,2% và giảm 8,9%. Trong khi đó, Anh là điểm sáng trong ba thị trường chính khi nhập khẩu 651 tấn, tăng 10,9% và chiếm 6,7% tổng lượng xuất khẩu.
Sáng nay (23/8), tiếp tục chương trình của Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, các đại biểu Quốc hội đã tiến hành bỏ phiếu thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi) với 94,60% đại biểu có mặt tán thành.
Giá cà phê trong nước tăng 1.500 – 1.600 đồng/kg trong tuần qua theo xu hướng chung của thị trường thế giới, dao động trong khoảng 95.700 – 96.200 đồng/kg. Tuy nhiên, giao dịch vẫn ảm đạm do nông dân gần như đã bán hết tồn kho, trong khi nhu cầu mua vào cũng khá hạn chế.
Lắp điện mặt trời có thể tốn 160-250 triệu đồng, nhưng thời gian hoàn vốn khác nhau tùy gia đình dùng điện ban ngày hay ban đêm và có đầu tư pin lưu trữ hay không.
Sau những đợt điều chỉnh tăng/giảm liên tục, giá heo hơi cả nước hiện dao động trong khoảng 56.000 - 58.000 đồng/kg.