Ghi nhận trong sáng nay, giá tiêu tại trong nước vẫn duy trì ổn định ở mức 134.000 – 136.500 đồng/kg.
Cụ thể, Đắk Lắk tiếp tục dẫn đầu về giá với mức 136.500 đồng/kg. Tại Đắk Nông (Lâm Đồng), giá tiêu được thu mua ở mức 135.500 đồng/kg; Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) đạt 134.500 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai và Bình Phước (Đồng Nai) tiếp tục ghi nhận mức giá thấp nhất, cùng ở mức 134.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 6/11 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
136.500 |
- |
|
Gia Lai |
134.000 |
- |
|
Đắk Nông |
135.500 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
134.500 |
- |
|
Bình Phước |
134.000 |
- |
|
Đồng Nai |
134.000 |
- |
Theo dữ liệu từ Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu tại Indonesia đang được niêm yết ở mức 6.799 USD/tấn, giảm nhẹ 1 USD/tấn so với ngày hôm trước.
Tại các quốc gia sản xuất hàng đầu khác, giá tiêu nhìn chung vẫn ổn định. Hiện tiêu đen ASTA 570 của Brazil có giá 5.700 USD/tấn - thấp nhất trên thị trường, trong khi Malaysia tiếp tục dẫn đầu với 9.100 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l đạt 5.950 USD/tấn và loại 550 g/l tiếp tục được chào bán ở mức 5.995 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 6/11 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.799 |
-0,01 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.700 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.100 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.950 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.995 |
- |
Trên thị trường tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok Indonesia cũng giảm nhẹ 1 USD/tấn, còn 9.285 USD/tấn.
Tại Malaysia và Việt Nam, tiêu trắng lần lượt được giao dịch với giá 12.000 USD/tấn và 8.450 USD/tấn, không đổi so với ngày hôm trước.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 6/11 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.285 |
-0,01 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.000 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
8.450 |
- |
Theo thống kê sơ bộ của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), trong tháng 10/2026, Việt Nam nhập khẩu 1.425 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 8,6 triệu USD, giảm 13,7% về lượng và 13,0% về giá trị so với tháng 9/2026, tương ứng giảm 227 tấn; đồng thời giảm 14,7% về lượng so với tháng 10/2025, tương ứng giảm 246 tấn. Trong đó, tiêu đen đạt 1.230 tấn, chiếm 86,3%; tiêu trắng đạt 195 tấn, chiếm 13,7%.
Campuchia là nguồn cung lớn nhất, đạt 520 tấn, chiếm 36,5% tổng lượng nhập khẩu, toàn bộ là tiêu đen. So với tháng trước, lượng nhập khẩu từ thị trường này giảm 40,0%, tương ứng giảm 346 tấn, là yếu tố chính khiến tổng nhập khẩu trong tháng giảm. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2025, nhập khẩu từ Campuchia vẫn tăng 19,5%.
Indonesia đứng thứ hai với 344 tấn, chiếm 24,1%, giảm 2,0% so với tháng trước nhưng tăng 6,8% so với cùng kỳ. Trong đó, tiêu đen đạt 159 tấn và tiêu trắng đạt 185 tấn. Indonesia cung cấp 94,9% lượng tiêu trắng nhập khẩu của Việt Nam trong tháng.
Nhập khẩu từ Brazil đạt 319 tấn, chiếm 22,4%, tăng mạnh 206,7% so với tháng 9/2026, tương ứng tăng 215 tấn, qua đó bù đắp một phần mức giảm từ Campuchia. Tuy nhiên, so với tháng 10/2025, lượng nhập khẩu từ Brazil giảm 50,6%, tương ứng giảm 327 tấn. Ba nguồn cung Campuchia, Indonesia và Brazil cộng lại chiếm 83,0% tổng lượng nhập khẩu.
Về doanh nghiệp, các hội viên VPSA nhập khẩu 812 tấn, chiếm 57,0%, tăng 18,4% so với tháng trước nhưng giảm 34,1% so với cùng kỳ. Nhóm ngoài VPSA đạt 613 tấn, chiếm 43,0%, giảm 36,5% so với tháng trước và tăng 39,6% so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp nhập khẩu lớn gồm Olam Việt Nam đạt 149 tấn, KSS Việt Nam 116 tấn, Ptexim Corp 112 tấn, Phong Hằng 108 tấn và Nedspice Việt Nam 102 tấn.
Tính đến hết tháng 10 năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 50.079 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 289,0 triệu USD, tăng 32,5% về lượng và 22,0% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025, tương ứng tăng 12.296 tấn. So với cùng kỳ năm 2024, lượng nhập khẩu tăng 75,1%.
Campuchia tiếp tục là nguồn cung lớn nhất, đạt 28.366 tấn, tăng 192,3% so với cùng kỳ, tương ứng tăng 18.661 tấn. Tỷ trọng của Campuchia tăng từ 25,7% lên 56,6%, cho thấy sự dịch chuyển rõ rệt trong cơ cấu nguồn cung. Mức tăng từ thị trường này vượt mức tăng nhập khẩu chung của cả nước, qua đó bù đắp sự sụt giảm từ Brazil và Indonesia.
Brazil đứng thứ hai với 13.034 tấn, giảm 29,5% so với cùng kỳ, tương ứng giảm 5.447 tấn; tỷ trọng giảm từ 48,9% xuống 26,0%. Indonesia đạt 5.379 tấn, giảm 22,6%, tương ứng giảm 1.567 tấn, chiếm 10,7%. Ba thị trường Campuchia, Brazil và Indonesia cung cấp tổng cộng 46.779 tấn, chiếm 93,4% lượng Hồ tiêu nhập khẩu của Việt Nam.
Về doanh nghiệp, nhóm ngoài VPSA là động lực chính thúc đẩy nhập khẩu, đạt 30.212 tấn, tăng 137,0%, nâng tỷ trọng từ 33,7% lên 60,3%. Trong khi đó, các hội viên VPSA nhập khẩu 19.867 tấn, giảm 20,6%, chiếm 39,7%. Olam Việt Nam nhập khẩu lớn nhất với 6.138 tấn, giảm 28,3%, chiếm 12,3% tổng nhập khẩu. Nedspice Việt Nam đạt 2.141 tấn, giảm 22,6%. Ngược lại, KSS Việt Nam tăng 20,8%, đạt 2.083 tấn; Gia vị Việt Nam tăng 28,0%, đạt 2.027 tấn và Liên Thành tăng 74,0%, đạt 1.834 tấn.
Giá dầu thô tiếp đà tăng trong phiên sáng ngày thứ Sáu (6/11) khi các vụ tấn công mới nhằm vào tàu chở dầu làm gia tăng lo ngại về nguồn cung, trong khi nhà đầu tư đánh giá lại triển vọng cuộc chiến giữa Mỹ, Israel và Iran.
Giá thép thanh kỳ hạn tăng, trong khi quặng sắt lên mức cao nhất một tháng nhờ đà tăng của chứng khoán Trung Quốc và biên lợi nhuận thép cải thiện.
Ngày 3/1 (giờ Mỹ), Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã ban hành Kết luận cuối cùng trong vụ rà soát hành chính lần thứ 20 (POR20) thuế chống bán phá (CBPG) đối với tôm nước ấm đông lạnh nhập khẩu từ Việt Nam, giai đoạn từ ngày 1/2/2024 đến 31/1/2025.
Giá vàng thế giới biến động trái chiều trong phiên sáng ngày thứ Sáu (6/11) sau khi lên mức cao nhất hơn hai tuần vào hôm trước, vì đồng USD và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ suy yếu sau khi giá dầu giảm, giúp xoa dịu lo ngại về lạm phát.