Sau nhiều phiên đi ngang, thị trường hồ tiêu trong nước ngày 8/10 bất ngờ điều chỉnh giảm trên diện rộng. Giá thu mua tại tất cả các địa phương được khảo sát giảm 1.000 - 1.500 đồng/kg so với ngày hôm trước, dao động trong khoảng 135.500 – 139.000 đồng/kg.
Đắk Nông (Lâm Đồng) ghi nhận mức điều chỉnh mạnh nhất, giảm 1.500 đồng/kg xuống 139.000 đồng/kg. Tuy nhiên, đây vẫn là địa phương có giá hồ tiêu cao nhất trong các khu vực khảo sát.
Trong khi đó, các địa phương còn lại đồng loạt giảm 1.000 đồng/kg. Tại Đắk Lắk, giá tiêu giảm 1.000 đồng/kg, xuống 137.500 đồng/kg.
Giá tiêu tại Gia Lai và Bình Phước (Đồng Nai) cũng giảm 1.000 đồng/kg, cùng đạt 135.500 đồng/kg.
Tại Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM), giá thu mua hồ tiêu hiện ở mức 136.000 đồng/kg, giảm 1.000 đồng/kg so với ngày hôm trước.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 8/10 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
137.500 |
-1.000 |
|
Gia Lai |
135.500 |
-1.000 |
|
Đắk Nông |
139.000 |
-1.500 |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
136.000 |
-1.000 |
|
Bình Phước |
135.500 |
-1.000 |
|
Đồng Nai |
135.500 |
-1.000 |
Trên thị trường quốc tế, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia được niên yết ở mức 6.834 USD/tấn, tăng nhẹ 0,09% (6 USD/tấn) so với ngày hôm trước.
Ngược lại, tại Việt Nam, tiêu đen 550 g/l giảm 1,32% (80 USD/tấn), xuống còn 5.995 USD/tấn; loại 500 g/l giảm 0,34% (20 USD/tấn), còn 5.950 USD/tấn.
Tại Malaysia, tiêu đen giữ nguyên giá chào bán ở mức 9.200 USD/tấn. Còn tại Brazil, tiêu đen ASTA 570 được giao dịch với giá 5.800 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 8/10 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.834 |
+0,09 |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
5.800 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.200 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.950 |
-0,34 |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
5.995 |
-1,32 |
Cùng thời điểm khảo sát, tiêu trắng Muntok Indonesia tăng 9 USD/tấn, lên 9.357 USD/tấn.
Trong khi đó, tại Việt Nam và Malaysia, giá tiêu trắng lần lượt được giao dịch ở mức 8.450 USD/tấn và 12.100 USD/tấn, không thay đổi so với ngày hôm trước.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 8/10 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.357 |
+0,10 |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.100 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
8.450 |
- |
Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) cho biết, theo số liệu thống kê của Comexstat, trong tháng 9/2026, Brazil xuất khẩu 4.530 tấn hồ tiêu, đạt kim ngạch 27,8 triệu USD, tăng 6,0% về lượng và 6,1% về kim ngạch so với tháng 8/2026; tuy nhiên, giảm 24,9% về lượng và 25,3% về kim ngạch so với tháng 9/2025. Giá xuất khẩu bình quân đạt khoảng 6.137 USD/tấn, gần như ổn định so với tháng trước và giảm nhẹ so với cùng kỳ.
Senegal là thị trường xuất khẩu lớn nhất trong tháng, đạt 515 tấn, chiếm 11,4%, tiếp theo là Ấn Độ đạt 470 tấn, Pakistan 405 tấn, Morocco 379 tấn và Saudi Arabia 378 tấn.
So với tháng trước, xuất khẩu sang Morocco, Saudi Arabia, Argentina và Đức tăng mạnh, trong khi Ấn Độ, Pakistan và Ai Cập giảm. Việt Nam nhập khẩu 337 tấn, đạt 2,0 triệu USD, tăng 15,8% về lượng so với tháng 8/2026 nhưng giảm 11,5% so với cùng kỳ. Sự sụt giảm tại UAE, Morocco, Đức, Pakistan và Ai Cập là những yếu tố chính khiến tổng lượng xuất khẩu tháng 9 thấp hơn cùng kỳ năm ngoái.
Lũy kế 9 tháng năm 2026, Brazil xuất khẩu 65.802 tấn hồ tiêu, đạt 407,2 triệu USD, tăng 2,8% về lượng và 2,6% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2025. Giá xuất khẩu bình quân đạt 6.188 USD/tấn, giảm nhẹ 0,2%, cho thấy tăng trưởng kim ngạch chủ yếu đến từ lượng xuất khẩu.
Việt Nam tiếp tục là thị trường lớn nhất của Brazil, đạt 15.856 tấn, trị giá 96,3 triệu USD, chiếm 24,1% tổng lượng xuất khẩu, nhưng giảm 18,1% về lượng và 12,8% về kim ngạch.
Ngược lại, Senegal đạt 7.144 tấn, tăng 46,8%; Pakistan đạt 6.446 tấn, tăng 98,6%; Ai Cập đạt 5.644 tấn, tăng 99,4%. Xuất khẩu sang Hoa Kỳ, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Mexico cũng tăng lần lượt 104,2%, 85,1%, 67,9% và 56,5% về lượng, góp phần bù đắp sự sụt giảm tại Việt Nam, UAE, Đức, Ấn Độ và Morocco.
Xét theo các bang, Espírito Santo dẫn đầu với 47.084 tấn, chiếm 71,6% tổng lượng xuất khẩu, tăng 7,6%, tương đương tăng 3.342 tấn so với cùng kỳ. Pará đứng thứ hai với 11.351 tấn, chiếm 17,3%, tăng 3,7%; trong khi Bahia đạt 7.193 tấn, chiếm 10,9%, giảm 21,4%.
Mức tăng tại Espírito Santo và Pará đã bù đắp sự sụt giảm của Bahia, trong đó Espírito Santo đóng vai trò chủ yếu duy trì tăng trưởng xuất khẩu Hồ tiêu Brazil trong 9 tháng năm 2026.
Giá cao su tự nhiên trong tháng 9 tăng 33 - 68% so với cùng kỳ năm trước tại các thị trường chính. Theo Nhóm Nghiên cứu Cao su Quốc tế (IRSG), giá cao có thể thúc đẩy khai thác và kéo giá đi xuống trong ngắn hạn. Tuy nhiên, vườn cây già cỗi và tái canh chậm có thể tạo ra mặt bằng giá ổn định hơn về dài hạn.
Giá cao su kỳ hạn tại Nhật Bản tăng phiên thứ ba liên tiếp khi thời tiết bất lợi tại các vùng sản xuất chính và tình trạng chậm trễ tại cảng làm nguồn cung nguyên liệu thắt chặt.
Giá quặng sắt trên Sàn Singapore gần như đi ngang trong ngày cuối kỳ nghỉ lễ Quốc khánh tại Trung Quốc, trong khi giá thép cuộn cán nóng tại Đông Nam Á được hỗ trợ bởi tình trạng gián đoạn sản xuất tại Nhật Bản.
Giá dầu thô phục hồi trong phiên sáng ngày thứ Năm (8/10) sau khi giảm vào hôm trước, vì IEA nhất trí đẩy nhanh việc giải phóng dầu từ các kho dự trữ và ưu tiên dầu diesel nhằm hạ nhiệt giá nhiên liệu đang ở mức cao kỷ lục, trong bối cảnh cuộc chiến tại Iran làm thắt chặt nguồn cung toàn cầu.