Khảo sát cho thấy, giá tiêu sáng nay tại các vùng sản xuất trọng điểm tiếp tục đi ngang, dao động trong khoảng 140.000 – 144.000 đồng/kg.
Trong đó, Đắk Lắk và Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) đang là địa phương có mức giá cao nhất, đạt 144.000 đồng/kg. Tiếp theo là Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) với 142.500 đồng/kg, Đồng Nai ở mức 142.000 đồng/kg, còn Gia Lai ghi nhận thấp nhất là 140.000 đồng/kg.
|
Thị trường (khu vực khảo sát) |
Giá thu mua ngày 9/5 (Đơn vị: VNĐ/kg) |
Thay đổi so với ngày hôm trước (Đơn vị: VNĐ/kg) |
|
Đắk Lắk |
144.000 |
- |
|
Gia Lai |
140.000 |
- |
|
Đắk Nông |
144.000 |
- |
|
Bà Rịa – Vũng Tàu |
142.500 |
- |
|
Bình Phước |
142.000 |
- |
|
Đồng Nai |
142.000 |
- |
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia vẫn duy trì ổn định ở mức 6.955 USD/tấn, tiêu đen Brazil loại ASTA 570 có giá 6.100 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu cũng đi ngang trong khoảng 6.100–6.200 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu đen thế giới |
|
|
Ngày 9/5 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu đen Lampung (Indonesia) |
6.955 |
- |
|
Tiêu đen Brazil ASTA 570 |
6.100 |
- |
|
Tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA |
9.300 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.100 |
- |
|
Tiêu đen Việt Nam (500 g/l) |
6.200 |
- |
Cùng thời điểm khảo sát, tiêu trắng Muntok của Indonesia duy trì ổn định ở mốc 9.164 USD/tấn. Tại Việt Nam và Malaysia, tiêu trắng lần lượt được báo giá ở mức 9.000 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
|
Tên loại |
Bảng giá tiêu trắng thế giới |
|
|
Ngày 9/5 (ĐVT: USD/tấn) |
% thay đổi so với hôm trước |
|
|
Tiêu trắng Muntok Indonesia |
9.164 |
- |
|
Tiêu trắng Malaysia ASTA |
12.200 |
- |
|
Tiêu trắng Việt Nam |
9.000 |
- |
Theo thống kê của Comexstat, trong tháng 4/2026, xuất khẩu hồ tiêu của Brazil đạt 12.738 tấn, kim ngạch đạt 78,6 triệu USD, tăng 10,1% về lượng và 9,0% về giá trị so với tháng 3/2026; đồng thời tăng 20,6% về lượng và 30,6% về giá trị so với cùng kỳ tháng 4/2025.
Việt Nam tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của hồ tiêu Brazil trong tháng 4/2026 đạt 4.810 tấn, chiếm 37,8% tổng lượng xuất khẩu, tăng mạnh 82,9% so với tháng 3 nhưng vẫn giảm 3,7% so với cùng kỳ năm trước.
Senegal đứng thứ hai với 1.222 tấn, chiếm 9,6%, tăng 21,7% so với tháng trước và tăng 65,8% so với cùng kỳ. Pakistan đạt 975 tấn, chiếm 7,7%, giảm 17,4% so với tháng trước nhưng tăng rất mạnh 351,4% so với cùng kỳ năm 2025. Ai Cập đạt 821 tấn, giảm 39,9% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 59,4% so với cùng kỳ. Morocco đạt 693 tấn, tăng 21,2% so với tháng trước.
Ngoài ra, nhiều thị trường ghi nhận mức tăng trưởng mạnh như Hà Lan đạt 475 tấn, tăng 120,9% so với tháng trước và tăng 850,0% so với cùng kỳ; Hoa Kỳ đạt 450 tấn, tăng 12,5%; Thổ Nhĩ Kỳ đạt 432 tấn, tăng 77,8%; Peru đạt 189 tấn, tăng 600,0% so với tháng trước.
Ngược lại, xuất khẩu sang UAE giảm rất mạnh xuống còn 108 tấn, giảm 90,5% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do gián đoạn bởi xung đột tại Trung Đông.
Lũy kế trong 4 tháng đầu năm 2026, Brazil xuất khẩu tổng cộng 38.343 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt 238,7 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu tăng 14% và kim ngạch tăng 16,1%; so với cùng kỳ năm 2024, lượng tăng 47,8% và kim ngạch tăng tới 155,6%.
Trong đó, Việt Nam tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất trong 4 tháng đầu năm với 11.314 tấn, chiếm 29,5% tổng lượng xuất khẩu nhưng giảm 16,2% so với cùng kỳ năm 2025.
Pakistan vươn lên mạnh mẽ đạt 4.176 tấn, chiếm 10,9%, tăng 259,4%; Ai Cập đạt 3.197 tấn, chiếm 8,3%, tăng 83,0%; Senegal đạt 2.795 tấn, chiếm 7,3%, tăng 10,6%; UAE đạt 2.619 tấn, chiếm 6,8%, giảm 5,2%. Mỹ đạt 1.801 tấn, tăng 156,2%; Mexico đạt 1.494 tấn, tăng 268,0%; Hà Lan đạt 1.240 tấn, tăng 204,7%; Pháp đạt 811 tấn, tăng 289,9%; Thổ Nhĩ Kỳ đạt 933 tấn, tăng 80,5%.
Trong khi đó, một số thị trường truyền thống ghi nhận sụt giảm như Ấn Độ giảm 48,8%, Morocco giảm 21,2%, Đức giảm 17,8% và Argentina giảm 41,4% so với cùng kỳ năm trước.
FAO cảnh báo gián đoạn tại eo biển Hormuz có thể làm khan hiếm phân bón toàn cầu, kéo giảm năng suất nông nghiệp và thắt chặt nguồn cung thực phẩm từ nửa cuối năm 2026 sang năm 2027.
Giá cà phê hôm nay diễn biến trái chiều khi robusta quay đầu giảm nhẹ, trong khi arabica phục hồi trở lại. Tại Brazil, đồng real đang neo gần mức cao nhất trong hai năm so với USD, khiến các nhà xuất khẩu hạn chế bán ra. Trong khi đó, các thương nhân tại Việt Nam cũng chưa đẩy mạnh bán hàng ra thị trường.
Giá cao su tăng trở lại khi giá dầu phục hồi, nguy cơ gián đoạn nguồn cung do thời tiết cực đoan tại Thái Lan và tác động từ hiện tượng El Nino cũng hỗ trợ giá.
Giá thép và quặng sắt được hỗ trợ nhờ sản lượng gang nóng duy trì ở mức cao cùng hoạt động xả kho ổn định, trong khi gián đoạn khai thác tại dự án Simandou ở Guinea làm gia tăng lo ngại về nguồn cung.