Nếu như việc tấn công các cơ sở dầu mỏ của Iran là lằn ranh đỏ mà Mỹ không muốn vượt qua, thì việc đe dọa vị thế của USD và phong tỏa vĩnh viễn eo biển Hormuz là những lằn ranh đỏ mà Iran không được phép vi phạm.
Sau khi Iran thông báo cho các tàu chở dầu giao dịch bằng Nhân dân tệ được đi qua Hormuz, Mỹ đã lập tức gửi đi cảnh báo đanh thép bằng cách ném bom dữ dội các mục tiêu quân sự trên đảo Kharg nhưng vẫn chừa lại các kho tàng dầu khí. Nếu Iran rải thủy lôi dày đặc ở Hormuz, Mỹ sẽ không kiêng nể với các hạ tầng năng lượng của Iran.
Dữ liệu từ Cơ quan Tình báo Quốc phòng Mỹ (DIA) ước tính Iran sở hữu từ 5.000 đến 6.000 quả thủy lôi các loại. Số lượng này thừa sức tạo ra một bức tường lửa dưới đáy biển, cắt đứt tuyến đường vận chuyển 20 triệu thùng dầu mỗi ngày của thế giới.
Thế nhưng, các báo cáo từ Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ tính đến trung tuần tháng 3/2026 xác nhận Tehran mới chỉ triển khai chưa tới 10 quả thủy lôi. Đây là một con số quá khiêm tốn so với quy mô của một cuộc chiến tranh toàn diện và những lời đe dọa cứng rắn được đưa ra trước đó.
Mặc dù số lượng mìn thực tế rất ít, eo biển Hormuz vẫn đang rơi vào tình trạng tê liệt gần như hoàn toàn vì rủi ro an ninh bị đẩy lên cực điểm. Thống kê của Cơ quan Điều hành Thương mại Hàng hải Vương quốc Anh (UKMTO) cho thấy lưu lượng tàu thuyền qua lại đã sụt giảm 97%, lao dốc từ mức trung bình 141 tàu mỗi ngày xuống chỉ còn 2 - 4 chiếc. Đa số các hãng vận tải thương mại lớn đã từ chối đưa tàu vào khu vực này vì sợ bị tập kích.
Thứ đang phong tỏa Hormuz không chỉ có những quả thủy lôi hầm hố mà còn cả bảng giá bảo hiểm và cước phí vận tải. Phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh đã tăng vọt, đẩy chi phí bảo hiểm cho một chuyến đi của tàu chở dầu trị giá 100 triệu USD từ mức 250 nghìn USD lên tới 1 triệu USD. Cùng lúc đó, chỉ số cước tàu chở dầu thô (BDTI) tăng 54% và cước tàu chở nhiên liệu tinh chế (BCTI) tăng tới 72%. Chi phí nhiên liệu hàng hải tại Singapore, trạm tiếp nhiên liệu lớn nhất thế giới, cũng chứng kiến mức tăng xấp xỉ 100%.
Bề ngoài, Iran dường như đã thành công trong việc bóp nghẹt Hormuz chỉ bằng những lời đe dọa. Tuy nhiên, lý do thực sự khiến Iran không dám tiến thêm một bước để rải thủy lôi toàn diện lại nằm ở bài toán lợi ích cốt lõi của quốc gia này.
Ảnh minh họa một bãi thủy lôi. Nguồn: US Naval Institute.
Thủy lôi là một loại vũ khí "mù", tức là không có khả năng phân biệt địch ta khi đã được thả xuống biển. Dòng thủy lôi Maham 1 của Iran kích nổ khi có va chạm trực tiếp, trong khi các loại thủy lôi thông minh như Maham 2 và 3 sử dụng cảm biến từ tính, âm thanh để tự động phát nổ và bẻ gãy sống lưng tàu bằng một bong bóng khí giãn nở tốc độ cao.
Việc thiết lập một bãi thủy lôi thực thụ đồng nghĩa với việc tạo một rào cản vô hình lên tất cả các phương tiện, không loại trừ bất kỳ ai.
Iran hiện đang kiểm soát Hormuz, nhưng nếu rải thủy lôi dày đặc, Iran sẽ tự mình đánh mất quyền kiểm soát tuyến đường này. Đây chính là điểm yếu chí mạng trong chiến lược quân sự của Tehran, bởi họ vẫn cần Hormuz thông suốt hơn bất kỳ quốc gia nào khác.
Kể từ khi cuộc xung đột nổ ra vào ngày 28/2, ít nhất 11,7 triệu thùng dầu thô của Iran vẫn âm thầm đi qua eo biển này. Các chuyến hàng này được chuyên chở bởi "hạm đội bóng đêm", nhận sự bảo vệ của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) và giao dịch hoàn toàn bằng đồng Nhân dân tệ. Nguồn thu khổng lồ từ lượng dầu này là chiếc phao tài chính cuối cùng để duy trì bộ máy nhà nước Iran giữa vòng vây cấm vận.
Nếu kích hoạt một chiến dịch rải thủy lôi ồ ạt, Iran sẽ tự tay đóng sập cánh cửa xuất khẩu duy nhất của chính mình, những con tàu mang lại nguồn ngoại tệ sống còn cho Tehran cũng sẽ chịu rủi ro tương đương với các tàu thương mại phương Tây. Do đó, việc duy trì sự mập mờ và đe dọa rải mìn mang lại đòn bẩy địa chính trị lớn hơn rất nhiều. Iran phải duy trì khả năng đóng mở linh hoạt, có thể chặn đứng hoặc nới lỏng Hormuz cho tàu thuyền đi qua.
Khi việc cài thủy lôi toàn diện bị loại khỏi bàn cờ chiến thuật vì rủi ro tự sát kinh tế, Iran buộc phải tìm kiếm một phương thức tấn công khác. Sự chuyển hướng này đã làm lộ ra một điểm yếu bất ngờ của chính lực lượng hải quân đối phương.
Để thay thế cho bãi thủy lôi cố định, Iran đã áp dụng chiến thuật "quấy rối có kiểm soát" nhằm duy trì mức độ rủi ro cao mà không cần phong tỏa vĩnh viễn. Cụ thể, Iran sử dụng triệt để thiết bị bay không người lái (UAV) và xuồng không người lái (USV) để tấn công các mục tiêu chọn lọc. Chiến thuật này giúp Iran duy trì áp lực đủ lớn để xua đuổi tàu bè nhưng vẫn nắm quyền chủ động mở lại tuyến đường khi cần thiết.
Về phía Mỹ, việc ngăn chặn nguy cơ rải thủy lôi là mệnh lệnh bắt buộc bởi Hải quân Mỹ đang đối diện với sự thiếu hụt nghiêm trọng về năng lực rà phá thủy lôi. Lực lượng này hiện chỉ còn duy nhất 4 tàu quét mìn chuyên dụng lớp Avenger đang chờ ngày loại biên vào năm 2027. Nỗ lực thay thế bằng các Tàu Tác chiến Ven bờ (LCS) đã thất bại do chúng không mang lại hiệu quả rà phá mìn như kỳ vọng.
Tàu phá thủy lôi lớp Avenger của hải quân Mỹ. Ảnh: military.com.
Mỹ từng kỳ vọng có thể dựa vào năng lực chuyên môn của các đồng minh NATO, đặc biệt là Bỉ và Hà Lan, những quốc gia sở hữu các trung tâm rà phá mìn hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, các nước châu Âu đang tỏ ra ngần ngại và không muốn bị lôi kéo vào một cuộc chiến có nguy cơ gây thiệt hại trầm trọng cho nền kinh tế của các nước này. Sự thiếu hụt các đối tác hỗ trợ trực tiếp trên biển đã buộc Lầu Năm Góc phải tự mình giải quyết bài toán hóc búa này.
Quân đội Mỹ phải chọn phương án tấn công phủ đầu ngay từ trong trứng nước bằng cách liên tục oanh tạc tiêu diệt hơn 30 tàu rải thủy lôi của Iran tại các bến cảng, đồng thời san phẳng hàng loạt nhà kho chứa thủy lôi trên đảo Kharg. Sự chuyển hướng sang tiêu diệt phương tiện rải thủy lôi tiêu tốn lượng lớn đạn dược đắt đỏ, nhưng lại là phương thức khả dĩ duy nhất để Mỹ bù đắp cho điểm yếu chết người về rà phá mìn của mình.
Toàn bộ cấu trúc xung đột hiện tại đang bị chi phối bởi thuyết "Đảm bảo hủy diệt lẫn nhau về mặt kinh tế" (Economic MAD). Nếu eo biển Hormuz bị đóng sập hoàn toàn, giá dầu thô được dự báo sẽ vọt lên ngưỡng 150 đến 200 USD/thùng, tình trạng đình lạm (stagflation) sẽ tàn phá các nền kinh tế phương Tây.
Đổi lại, Iran cũng sẽ mất đi kênh xuất khẩu mang lại nguồn thu ngoại tệ duy nhất, dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ nền kinh tế nội địa vốn đã mong manh. Đây là một thế giằng co mà cả hai bên đều nắm giữ một nút bấm tự hủy nhưng không bên nào dám dứt khoát ấn.
Tính toán chiến lược của Tehran không dừng lại ở dầu mỏ mà còn bị chi phối bởi rủi ro từ những mặt hàng chiến lược khác đang lưu thông qua khu vực. Dữ liệu của Liên Hợp Quốc cho thấy 19% lượng khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) và khoảng 1/3 lượng phân bón vận chuyển đường biển của thế giới bắt buộc phải đi qua eo biển này.
Việc gián đoạn dòng chảy khí đốt và phân bón gốc nitơ sẽ ngay lập tức đẩy chi phí canh tác nông nghiệp toàn cầu lên cao, đe dọa an ninh lương thực của các quốc gia đang phát triển. Việc tạo ra một cuộc khủng hoảng diện rộng như vậy sẽ tước đi mọi sự ủng hộ chính trị quốc tế mà Iran đang cố gắng duy trì.
Quan trọng nhất, hành động khóa chặt eo biển sẽ trực tiếp gây tổn hại đến lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, khách hàng lớn nhất đang tiêu thụ khoảng 80 - 90% lượng dầu xuất khẩu của Iran. Các nhà máy lọc dầu tư nhân nhỏ (teapot refineries) của Bắc Kinh phụ thuộc chủ yếu vào dòng chảy năng lượng từ Trung Đông, buộc chính phủ nước này phải liên tục kêu gọi ổn định chuỗi cung ứng.
Nếu Iran vượt qua lằn ranh đỏ và phong tỏa chặt Hormuz, họ không chỉ chọc giận phương Tây mà còn có nguy cơ đánh mất đi chiếc ô bảo vệ về kinh tế và ngoại giao từ chính đối tác chiến lược lớn nhất của mình.
Chính vì những ràng buộc đan xen này, hành động quân sự của cả hai bên đều dừng lại ở mức độ kiềm chế có toan tính. Mỹ đã lựa chọn bảo vệ hạ tầng dầu mỏ tại đảo Kharg (như đã phân tích ở Phần 1) để giữ lại cho Iran một lý do duy trì eo biển thông suốt.
Đáp lại, Iran cũng buộc phải cất kỹ kho thủy lôi dồi dào của mình để tiếp tục bơm dầu sang châu Á. Sự vận hành của nguyên lý đe dọa hủy diệt lẫn nhau về kinh tế (MAD) đã ngăn chặn một kịch bản tồi tệ nhất, biến cuộc xung đột tại Trung Đông thành một bài kiểm tra sức chịu đựng kéo dài giữa các siêu cường kinh tế.
Các nhà đầu tư đang bắt đầu cân nhắc khả năng Fed tăng lãi suất nhằm ngăn chặn lạm phát tăng nóng sau xung đột Trung Đông.
Theo số liệu năm 2025, Trung Đông và Bắc Mỹ là hai khu vực sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 60% sản lượng dầu toàn cầu.
Một trong những cuộc khủng hoảng dầu mỏ nghiêm trọng nhất thập kỷ đang đặt Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vào tình thế đầy thách thức.
Ông Michael Hartnett, chuyên gia của Bank of America, dự đoán các nhà hoạch định chính sách Mỹ sẽ không chờ thị trường chứng khoán giảm quá sâu trước khi can thiệp, nhằm ngăn chặn rủi ro lan sang nền kinh tế thực.