Trong báo cáo cập nhật ngành ngân hàng vừa công bố, MBS Research cho rằng thanh khoản hệ thống sẽ tiếp tục là vấn đề đáng quan tâm trong nửa cuối năm 2026 khi tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao nhưng huy động vốn vẫn chưa bắt kịp. Điều này không chỉ làm gia tăng áp lực lên mặt bằng lãi suất huy động mà còn gây sức ép lên biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng.
Mặc dù vẫn duy trì đánh giá khả quan đối với ngành ngân hàng và dự báo lợi nhuận năm 2026 tăng gần 18%, MBS đồng thời hạ dự báo tăng trưởng lợi nhuận so với trước đó do tác động từ chi phí vốn gia tăng và xu hướng thu hẹp NIM.
Theo số liệu được MBS tổng hợp, tính đến ngày 26/5/2026, chênh lệch giữa tổng tín dụng và tổng huy động vốn của toàn hệ thống ngân hàng đã vượt 1,4 triệu tỷ đồng, tăng hơn 40% so với cuối năm 2025.
Trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) của ngành tiếp tục neo ở mức cao. Đây là nguyên nhân chính khiến thanh khoản hệ thống duy trì trạng thái căng thẳng bất chấp việc mặt bằng lãi suất huy động đã tăng đáng kể so với năm trước.
MBS cho rằng các ngân hàng đang rơi vào tình thế tương đối khó khăn. Một mặt, họ phải đẩy mạnh huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng và duy trì các tỷ lệ an toàn theo quy định. Mặt khác, định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước vẫn là giữ ổn định, thậm chí giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
"Sự giằng co" này khiến chi phí vốn của hệ thống tiếp tục đi lên trong khi dư địa cải thiện lợi suất cho vay không còn nhiều như giai đoạn trước.
Diễn biến trên cũng được phản ánh qua thị trường liên ngân hàng. Trong 5 tháng đầu năm, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng gần 80.000 tỷ đồng thông qua kênh thị trường mở (OMO), trái ngược với mức bơm ròng gần 20.000 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.
Dù cơ quan điều hành đã thực hiện ba đợt hoán đổi ngoại tệ nhằm hỗ trợ thanh khoản VND ngắn hạn, lãi suất liên ngân hàng vẫn duy trì ở vùng cao. Lãi suất qua đêm có thời điểm tăng lên 17,25% trong quý I và 10,45% trong quý II, trong khi lãi suất liên ngân hàng bình quân 5 tháng đầu năm đạt 5,8%, cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm ngoái.
Theo MBS, các diễn biến này cho thấy thanh khoản hệ thống vẫn đang chịu áp lực lớn và nhiều khả năng sẽ tiếp tục căng thẳng trong những quý còn lại của năm khi tăng trưởng tín dụng được thúc đẩy nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng GDP.
Ở chiều tín dụng, MBS giữ nguyên dự báo tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 ở mức khoảng 15%. Động lực chính tiếp tục đến từ khối doanh nghiệp, đặc biệt là các lĩnh vực hưởng lợi từ đầu tư công, xuất khẩu, khu công nghiệp và chuỗi cung ứng.
Nhóm phân tích cho rằng việc giải ngân đầu tư công còn chậm trong 5 tháng đầu năm sẽ tạo dư địa để tăng tốc trong nửa cuối năm, kéo theo nhu cầu tín dụng doanh nghiệp gia tăng. Bên cạnh đó, định hướng thúc đẩy xuất khẩu trong bối cảnh Việt Nam ghi nhận nhập siêu cũng sẽ giúp dòng vốn tín dụng ưu tiên hơn cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất nhập khẩu.
Trong khi đó, tín dụng bán lẻ được dự báo phục hồi chậm hơn do lãi suất cho vay vẫn ở mức cao hơn năm trước, đồng thời các thay đổi liên quan đến chính sách thuế hộ kinh doanh và việc kiểm soát tín dụng bất động sản tiếp tục ảnh hưởng đến nhu cầu vay vốn cá nhân.
Theo MBS, áp lực thanh khoản hiện nay đang tác động trực tiếp đến biên lãi ròng của hệ thống ngân hàng. Trong quý I/2026, chi phí vốn của các ngân hàng niêm yết tăng tới 71 điểm cơ bản so với cùng kỳ và tăng 32 điểm cơ bản so với quý trước. Trong khi đó, lợi suất tài sản chỉ cải thiện ở mức khiêm tốn, khiến NIM toàn ngành tiếp tục giảm khoảng 15 điểm cơ bản.
Đáng chú ý, MBS cho rằng xu hướng suy giảm NIM sẽ còn tiếp diễn trong phần còn lại của năm do nhiều yếu tố cùng xuất hiện.
Thứ nhất, huy động vốn vẫn tăng chậm hơn tín dụng khiến các ngân hàng phải duy trì mức lãi suất huy động tương đối hấp dẫn để thu hút dòng tiền. Thứ hai, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng và lãi suất OMO vẫn ở mức cao, phản ánh áp lực thanh khoản chưa được giải quyết triệt để.
Thứ ba, cơ cấu tín dụng đang dịch chuyển theo hướng gia tăng các khoản vay trung và dài hạn, đặc biệt là các dự án hạ tầng và bất động sản phục vụ nhu cầu thực. Điều này làm gia tăng nhu cầu huy động vốn dài hạn và khiến chi phí vốn tiếp tục chịu áp lực.
Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng sẽ không giống nhau giữa các ngân hàng. MBS đánh giá nhóm ngân hàng quy mô lớn có lợi thế CASA cao như Vietcombank, VietinBank, Techcombank, MB hay ACB sẽ có khả năng chống chịu tốt hơn trước áp lực thu hẹp NIM nhờ sở hữu nguồn vốn giá rẻ và thương hiệu huy động mạnh.
Bên cạnh đó, các ngân hàng có tỷ lệ LDR thấp như ACB và HDBank được cho là ít chịu áp lực thanh khoản hơn mặt bằng chung, từ đó duy trì biên lãi ròng ổn định hơn.
Ngược lại, nhóm ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc hoặc có tỷ trọng cho vay bán lẻ và cho vay kinh doanh bất động sản lớn được dự báo sẽ chịu sức ép lớn hơn đối với NIM trong năm nay.
Dù vậy, MBS không quá lo ngại về chất lượng tài sản của hệ thống. Công ty chứng khoán này dự báo nợ xấu cuối năm 2026 sẽ không biến động đáng kể so với cuối năm trước nhờ các ngân hàng đã chủ động xử lý nợ trong hai năm gần đây và tăng cường trích lập dự phòng ngay từ đầu năm. Theo đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành được kỳ vọng duy trì quanh mức 80%, trong khi chi phí dự phòng cả năm chỉ tăng khoảng 9,3%.
Trên cơ sở đó, MBS dự báo lợi nhuận sau thuế của nhóm ngân hàng niêm yết theo dõi sẽ tăng khoảng 17,9% trong năm 2026. Định giá ngành hiện cũng được đánh giá ở vùng hấp dẫn khi P/B toàn ngành thấp hơn khoảng 5% so với trung bình ba năm và thấp hơn 12% so với trung bình năm năm.
Trong danh mục ưu tiên, MBS tiếp tục lựa chọn CTG, ACB và VPB nhờ triển vọng tăng trưởng lợi nhuận tích cực, lợi thế cạnh tranh riêng và mức định giá còn nhiều dư địa tăng trưởng.