27/08/2026 10:55

Nhu cầu vốn trung dài hạn lớn, ngân hàng huy động trái phiếu lãi suất hai con số nhưng kỳ hạn rút ngắn lại

Lãi suất phát hành trái phiếu của nhóm ngân hàng tăng mạnh trong 7 tháng đầu năm, trong khi kỳ hạn phát hành lại có xu hướng rút ngắn lại phản ánh tâm lý thận trọng.

Phát hành trái phiếu để huy động vốn là một trong những cách các ngân hàng đang thực hiện để bổ sung nguồn vốn trung dài hạn của mình.Thực tế cho thấy, hệ thống ngân hàng Việt Nam có cơ cấu nguồn vốn mang tính ngắn hạn là chủ yếu, khi 80% vốn huy động có kỳ hạn ngắn trong khi tới 50% dư nợ là các khoản vay trung dài hạn.

Trong bối cảnh lãi suất huy động tăng cao, cuộc đua huy động giữa các ngân hàng càng trở nên gay gắt hơn, lãi suất huy động trái phiếu cũng chịu áp lực tăng mạnh để cạnh tranh.

Nếu như giai đoạn "tiền rẻ" 2021 - 2022, lãi suất trái phiếu doanh nghiệp bình quân của khối ngân hàng chỉ dao động trong khoảng từ 4 - 6%/năm (theo báo cáo từ VCBS) thì đến nay, các nhà băng đã phải trả lãi tới 8 - 10%/năm khi huy động trái phiếu. Mặt bằng lãi suất huy động trái phiếu đã tăng đáng kể từ mức bình quân 5,92%/năm cuối năm trước lên 9%/năm trong nửa đầu 2026.

Theo cập nhật của MBS, trong 7 tháng đầu năm, lãi suất phát hành trái phiếu của nhóm ngân hàng ghi nhận mức tăng mạnh nhất với lãi suất bình quân đạt 8,5% (tăng tới 2,76 điểm % so với cùng kỳ).

Nguồn: VCBS.

Mặt bằng lãi suất trái phiếu phổ biến thiết lập quanh 8 - 8,7%/năm, có nơi phát hành với lãi suất 10%/năm, cho thấy áp lực chi phí vốn gia tăng khi tăng trưởng vượt xa huy động và nhu cầu bổ sung nguồn vốn trung – dài hạn tiếp tục ở mức cao.

Cùng với đó, kỳ hạn phát hành cũng cho tín hiệu co ngắn lại trong bối cảnh chi phí cao, tập trung ở khoảng 2-3 năm trong khi cùng kỳ năm trước khoảng 4 năm cho thấy tâm lý thận trọng của các nhà phát hành.

Nguồn: VCBS.

Áp lực từ chi phí vốn cũng khiến cho các tổ chức phải cân nhắc nhiều hơn trong việc huy động từ trái phiếu. So với cùng kỳ năm trước, khối lượng phát hành trái phiếu của nhóm ngân hàng đã giảm mạnh 55%. Một trong những nguyên nhân là trong nửa đầu năm trước tăng trưởng tín dụng cao hơn, ngành ngân hàng cần phát hành để bổ sung nguồn vốn đáp ứng.

Trao đổi với chúng tôi, ông Phan Duy Hưng, CFA, MBAGiám đốc cấp cao - Ban Định chế Tài chính VIS Rating cho biết:“Chênh lệch huy động và tín dụng hiện đang ở mức khoảng 2 triệu tỷ đồng khiến các ngân hàng buộc phải đẩy mạnh hút vốn từ các kênh khác trong đó có TPDN thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào huy động”.

Ông Phan Duy Hưng, CFA, MBA, Giám đốc cấp cao - Ban Định chế Tài chính VIS Rating. (Ảnh: VIS Rating).

Theo ông Hưng, phát hành TPDN của nhóm ngân hàng đang chiếm đa số nguồn cung mới của thị trường. Tuy nhiên xét về triển vọng từ nay đến cuối năm, phát hành của nhóm ngân hàng sẽ duy trì đi ngang và cũng khó có khả năng tăng trưởng mạnh.

Nguyên nhân là mặt bằng lãi suất đang cao và thanh khoản hệ thống không còn quá dư thừa. Một số ngân hàng cũng đã chạm các tỷ lệ an toàn về vốn huy động.

Theo ông phân tích, lãi suất cao ảnh hưởng rõ rệt đến thị trường. Chi phí huy động vốn lớn khiến các doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ việc có nên mở rộng đầu tư hay không bởi thông thường, trái phiếu doanh nghiệp phải có mức lãi suất hấp dẫn hơn lãi suất tiền gửi thì mới thu hút được nhà đầu tư, điều này tạo áp lực rất lớn cho tổ chức phát hành.

Do đó, ngoài nhóm bất động sản như sản xuất, chứng khoán cũng có kế hoạch phát hành trái phiếu, nhưng trong bối cảnh lãi suất cao và môi trường kinh doanh khó khăn như hiện nay, nhiều bên đang ngần ngại và tạm dừng kế hoạch để quan sát thêm.

Bên cạnh đó, Nghị định 200 của Chính phủ mới ban hành về phát hành trái phiếu yêu cầu các tổ chức phát hành (bao gồm cả ngân hàng) phải chi tiết hóa mục đích sử dụng vốn và báo cáo cụ thể dòng tiền vào các dự án. Điều này đòi hỏi thời gian để các bên thích nghi.

Hiện tại, các ngân hàng đang có xu hướng chuyển sang kênh phát hành chứng chỉ tiền gửi để tiếp cận nguồn vốn từ cá nhân và doanh nghiệp”, ông Hưng cho hay.

Trong khi đó, theo nhận định của VCBS, hoạt động phát hành trái phiếu ngân hàng sẽ phục hồi trong nửa cuối năm 2026, do áp lực cân đối nguồn vốn và thanh khoản khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, nhu cầu bổ sung nguồn vốn trung – dài hạn nhằm đáp ứng tín dụng dự án và kéo dài kỳ hạn nguồn vốn.

Đồng thời yêu cầu củng cố vốn cấp 2 và CAR, đặc biệt tại nhóm ngân hàng quốc doanh khi mặt bằng bình quân CAR của nhóm này chỉ quanh 10%, chưa có sự cải thiện đáng kể.

Tuy nhiên, khoảng chênh giữa lãi suất cho vay và lợi suất phát hành trái phiếu ngân hàng ngày càng thu hẹp khiến các ngân hàng sẽ thận trọng hơn về quy mô và thời điểm phát hành, dù nhu cầu bổ sung vốn trung – dài hạn và vốn cấp 2 vẫn duy trì cao.

Hạ An
QUẢNG CÁO
QUẢNG CÁO