Tọa đàm "Liên kết doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp FDI để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu" tổ chức ngày 5/12. (Ảnh: A.Đ).
Ngày 5/12, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VERP) cùng Viện Konrad-Adenauer-Stiftung (KAS) tổ chức tọa đàm "Liên kết doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp FDI để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu".
Tại tọa đàm, TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) cho rằng Việt Nam cần thay đổi cách tiếp cận khi nói đến phát triển công nghiệp phụ trợ, tham gia vào chuỗi liên kết với doanh nghiệp FDI.
"Thay vì nghĩ rằng khi doanh nghiệp FDI vào và sẽ hỗ trợ, liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, cần tư duy theo hướng sản xuất toàn cầu. Ví dụ như Thái Lan sản xuất phụ tùng ô tô quy mô lớn và các quốc gia đều phải mua của họ", ông nói.
Ông cho rằng Việt Nam cần đẩy mạnh năng lực nội tại, làm ngành cung ứng cho tất cả, không chỉ phụ thuộc vào các doanh nghiệp FDI, như thế thì quy mô sẽ rất nhỏ.
Cũng nói về công nghiệp phụ trợ mà cụ thể là ngành sản xuất lắp ráp ô tô, TS. Nguyễn Quốc Việt, Phó Viện trưởng VEPR, cho biết ngành này không phát triển mạnh mẽ được như xe máy hay dòng xe thương mại do phụ thuộc nặng nề vào phụ tùng, linh kiện nhập khẩu.
Mặc dù một số bộ phận đơn giản và thâm dụng lao động như ghế ô tô đã được sản xuất trong nước nhưng các phụ tùng, linh kiện phức tạp như động cơ và hộp số thường được nhập khẩu từ các chi nhánh của công ty mẹ hoặc từ các nhà cung cấp nước ngoài.
Hiện tỷ lệ nội địa hoá chỉ chiếm khoảng từ 10 - 20% đối với sản phẩm ô tô, thấp hơn nhiều so với mức 45% của Thái Lan.
Hiện Việt Nam có 20 doanh nghiệp lắp ráp ô tô lớn đang hoạt động nhưng chỉ có 81 nhà cung ứng cấp 1 và 145 nhà cung ứng cấp 2 và cấp 3. Trong khi đó Thái Lan chỉ có 16 nhà lắp ráp ô tô lớn nhưng quốc gia này có tới 690 nhà cung cấp cấp 1 và 1.700 nhà cung cấp cấp 2 và cấp 3.
Chuyên gia VEPR cho hay ngành công nghiệp ô tô Việt Nam ra đời muộn, tham gia chủ yếu vào phân khúc thấp của chuỗi giá trị, phụ thuộc lớn vào sự phân công sản xuất của các tập đoàn ô tô toàn cầu; chưa làm chủ được các công nghệ cốt lõi như động cơ, hệ thống điều khiển, hệ thống truyền động.
Các doanh nghiệp trong nước chỉ đóng góp các chi tiết có giá trị gia tăng thấp và thâm dụng lao động như lốp, ắc quy và dây điện. Việt Nam có khoảng 200 - 300 doanh nghiệp sản xuất phụ tùng ô tô, phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ với năng lực sản xuất và công nghệ thấp.
Ngoài ra, các chính sách ưu đãi về thuế, trong đó có thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt, còn chưa đủ hấp dẫn để thực sự khuyến khích doanh nghiệp mở rộng đầu tư sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước. Đây chính là một trong những nút thắt, ảnh hưởng đến sự phát triển ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam.
Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng giao tỉnh Ninh Bình xây dựng đề án trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2030, mang đặc trưng đô thị di sản thiên niên kỷ.
Theo Phó Chủ tịch UBCKNN Hoàng Văn Thu, các nhà đầu tư nước ngoài đang quan tâm đến nhiều doanh nghiệp quy mô lớn, vốn hóa hàng tỷ USD. Trong khi đó, vẫn còn 67 DNNN chưa đáp ứng yêu cầu có ít nhất 100 cổ đông không phải cổ đông lớn nắm giữ.
Hà Nội dự kiến cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp Nhà nước từ 53 xuống còn 17 trong giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời hoàn thành thoái vốn tại các doanh nghiệp có vốn Nhà nước vào năm 2028.
Sau nửa đầu năm tăng trưởng tích cực, kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn khó hơn khi ba biến số gồm nhập siêu, lạm phát và tỷ giá cùng tạo sức ép lên điều hành. Theo HSBC, phần còn lại của năm không chỉ là bài toán duy trì đà tăng trưởng mà còn là giữ được cân bằng vĩ mô.