Vĩ Mô 13/01/2026 07:04

Chuyên gia: Tỷ lệ tiết kiệm của người dân cao là dư địa quan trọng để huy động vốn cho tăng trưởng

Tỷ lệ tiết kiệm của người dân Việt Nam rất lớn lên tới 37% GDP. Đây là một nguồn lực có sẵn và có thể kích cầu bất cứ lúc nào, qua đó thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ.

Để tăng trưởng GDP cao liên tục trong một thời gian dài nhằm vượt bẫy thu nhập trung bình đạt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2025, tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam cần một số tiền khổng lồ.

Theo ước tính của TS. Cấn Văn Lực, Thành viên Tổ tư vấn Chính sách của Thủ tướng và nhóm nghiên cứu BIDV, giai đoạn 2026 - 2030, nền kinh tế dự kiến tăng trưởng khoảng 11%, sau đó sẽ tăng chậm dần vì quy mô đã lớn, ở mức khoảng 8,5%. Trong giai đoạn 5 năm tiếp theo, vốn đầu tư toàn xã hội phải đạt khoảng 39% - 40% GDP, sau đó là 37% cho giai đoạn 2031-2045.

Trao đổi với chúng tôi, TS. Cấn Văn Lực cho biết các nước trong thời kỳ tăng trưởng cao như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan đều cần tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư hằng năm từ 13 - 15%.

"Để tăng trưởng cao liên tục trong 5 - 10 năm cần một lượng vốn khổng lồ, nếu thị trường vốn của chúng ta không phát triển thì lấy tiền ở đâu?”, TS. Lực đặt vấn đề.

Trên thực tế, với quy mô GDP hơn 500 tỷ USD, ước tính tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần có trong giai đoạn 5 năm tiếp theo lên tới 260 tỷ USD. Đây là con số khổng lồ cần huy động từ nhiều nguồn khác nhau.

 

Theo số liệu từ Cục Thống kê, đầu tư tư nhân đã tăng nhanh trong những năm qua từ mức chiếm khoảng 45% tổng vốn đầu tư toàn xã hội hiện nay lên khoảng 57%FDI góp khoảng 16-17% tổng vốn cho nền kinh tế, đầu tư Nhà nước chiếm khoảng 26,7%.

Tuy nhiên, nếu xét theo kênh dẫn vốn lại đang có sự bất cập rất lớn. Nguồn vốn hiện nay chủ yếu đến từ tín dụng (chiếm hơn 50%) trong khi đầu tư công chiếm 16,3%, FDI 15%, còn lại vốn từ thị trường cổ phiếu (bao gồm cổ phần hóa, thoái vốn, M&A) còn khá nhỏ, chỉ chiếm khoảng 1-3%, thị trường trái phiếu doanh nghiệp chiếm khoảng 10-11%, năm cao nhất là 2021 đạt khoảng 24%, vốn tự có của doanh nghiệp tư nhân chỉ chiếm 3,8%.

Còn theo Ngân hàng Thế giới (WorldBank), quy mô thị trường tài chính Việt Nam, bao gồm: Tổng tài sản hệ thống tín dụng, dư nợ trái phiếu, vốn hóa thị trường cổ phiếu và doanh thu phí bảo hiểm đang tăng mạnh và dự kiến đến cuối năm 2025 sẽ đạt khoảng 38,64 triệu tỷ đồng, tương đương 311% GDP.

Như vây, quy mô tài sản tài chính đang gấp khoảng ba lần quy mô nền kinh tế thực. Đây là con số cần đặc biệt lưu tâm. Nếu xảy ra hiện tượng bong bóng tài sản hoặc rủi ro hệ thống, kết hợp với sự biến động của thị trường bất động sản, nền kinh tế sẽ phải đối mặt với thách thức rất lớn do mức độ liên thông của các thị trường này vô cùng chặt chẽ, chuyên gia cảnh báo.

Để giảm rủi ro cho thị trường tài chính, cấu trúc này phải thay đổi: Vốn tín dụng chỉ nên chiếm tối đa 40%, còn lại nguồn vốn từ thị trường vốn phải tăng lên mức khoảng 25 - 27%.

Điều này đặt ra bài toán phải huy động được nguồn lực của người dân, thay vì dựa vào nguồn vốn ngân hàng, để giảm sự mất cân đối, tuy nhiên, để khơi thông nguồn lực tài chính trong dân cư là không hề dễ dàng.

Nguồn vốn tiết kiệm của người dân rất lớn

 

Theo tính toán, Việt Nam hiện có tiềm năng lớn từ nguồn tiền gửi tiết kiệm trong dân. Tuy nhiên, tỷ lệ chuyển hóa từ tiết kiệm sang đầu tư thực tế còn thấp.

Theo tính toán của Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV, hiện nay, tỷ lệ tiết kiệm của Việt Nam đạt khoảng 37% GDP, mức tương đối cao so với khu vực nhưng thấp hơn Trung Quốc với 46% GDP. Con số này được tính toán dựa trên GDP trừ đi tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình và Nhà nước.

“Tiết kiệm rất lớn nhưng đầu tư không đáng bao nhiêu”, TS. Lực đánh giá và lý giải, điều này do hai nguyên nhân chính: Vòng quay tiền chậm (ách tắc thanh khoản) và môi trường đầu tư chưa thực sự thông thoáng, dẫn đến tâm lý tích cóp và đầu cơ.

vậy, nếu giải quyết được các điểm nghẽn này, đây sẽ là nguồn động lực quan trọng cho phát triển kinh tế. Bởi lẽ, Việt Nam có nét tương đồng với Trung Quốc - nơi người dân có xu hướng tích cóp tài sản và tiết kiệm.

"Ở Trung Quốc, tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế rất lớn, lên tới 46% GDP, nên nguồn lực của họ có sẵn và có thể kích cầu bất cứ lúc nào, qua đó thúc đẩy tăng trưởng rất mạnh mẽ", TS. Cấn Văn Lực thông tin.

Đây cũng là một cơ hội cho Việt Nam khi nền kinh tế cần một nguồn lực vững chắc từ trong nước, tạo sức chống chịu tốt hơn khi những nguồn vốn từ bên ngoài dễ bị tác động bởi bối cảnh thế giới.

Huy động nguồn lực từ trong dân

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Tổ tư vấn Chính sách của Thủ tướng. (Ảnh: VGP).

Việc huy động hiệu quả nguồn lực trong dân là giải pháp quan trọng bởi nguồn lực này không chỉ là nguồn tiền tiết kiệm khổng lồ trong tài khoản tiết kiệm mà còn là tiềm năng đầu tư chưa được khai thác triệt để, có khả năng tạo ra động lực tăng trưởng bền vững cho đất nước. 

Việc kiến tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi để người dân giảm tâm lý phòng thủ, lo lắng. Qua đó sẽ giảm được đầu cơ ngoại tệ, đầu cơ vàng, đầu cơ bất động sản đưa dòng tiền đi vào sản xuất kinh doanh.

Đây là nguồn lực khổng lồ, quan trọng là làm sao để gia tăng niềm tin, huy động vốn đi vào nền kinh tế thay vì nằm yên trong các tài sản đầu cơ, chuyên gia nhận định.

Bên cạnh đó, chuyên gia Cấn Văn Lực cũng gợi các nguồn lực tiềm năng để huy động vốn cho tăng trưởng, bên cạnh các kênh truyền thống như ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm.

Cụ thể, nguồn tài chính xanh và bền vững từ quỹ đầu tư quốc tế thông qua việc xây dựng danh mục dự án, địa phương và doanh nghiệp cụ thể, đáp ứng tiêu chuẩn bền vững; Nguồn thặng dư thương mại và kiều hối khi kiều hối duy trì khoảng 17 tỷ USD/năm, giải ngân FDI đạt khoảng 23-24 tỷ USD.

Ngoài ra, Việt Nam có thể huy động nguồn vốn ngoại mới từ nâng hạng thị trường chứng khoán từ cận biên lên mới nổi; Nguồn vốn vào trung tâm tài chính quốc tế; Nguồn vốn vào thị trường tài sản số bằng việc hoàn thiện khung pháp lý cho tài sản mã hóa. Điều này sẽ giúp cho thanh khoản thị trường sôi động hơn rất nhiều và dòng tiền nó bớt bị tồn đọng.

Việt Nam cũng có thể tận dụng lợi thế về diện tích rừng và cây xanh để huy động vốn thông qua hạn ngạch và tín chỉ carbon.

Đặc biệt, nếu giải tỏa nguồn lực tồn đọng khi tháo gỡ khó khăn cho hơn 2.700 dự án đang bị ách tắc (ước tính quy mô 6 triệu tỷ đồng) để đưa vào sản xuất kinh doanh cũng như các nguồn vốn khác từ vàng, tiết kiệm và chống tham nhũng, lãng phí; hoàn thuế VAT và thuế khác...,.. cũng là những nguồn tài lực cho tăng trưởng trong tương lai.

Hạ An
CÙNG CHUYÊN MỤC
Vĩ Mô 13/01/2026 08:32
Thủ tướng yêu cầu hoàn thành cơ sở dữ liệu thanh tra kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ trong quý II/2026

Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Thanh tra Chính phủ sớm khắc phục vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ, tăng cường kết nối dữ liệu toàn quốc phục vụ cơ sở dữ liệu thanh tra kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức.

Vĩ Mô 13/01/2026 08:03
4 ngân hàng rót gần 25.500 tỷ đồng cho Dự án Đường vành đai 4

4 ngân hàng gồm Agribank, MB, BIDV và MBV cấp hạn mức tín dụng gần 25.500 tỷ đồng xây dựng đường Vành đai 4.

Vĩ Mô 13/01/2026 07:31
Kỷ nguyên Việt Nam: Thích nghi và tái cân bằng trong một thế giới bất thường mới

Thế giới ngày nay không còn luân phiên giữa “bình yên” và “khủng hoảng” nữa, mà tồn tại trong trạng thái biến động liên tục từ bất bình thường này đến bất bình thường khác. Trong sự thay đổi không ngừng đó, tốc độ thích nghi của nền kinh tế trở nên quan trọng hơn so tốc độ tăng trưởng.

Vĩ Mô 13/01/2026 06:55
Người dân tại những địa phương nào chi tiêu nhiều nhất trong năm 2025?

Chi tiêu tiêu dùng tiếp tục bứt phá trong năm 2025, với tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ cả nước đạt hơn 7 triệu tỷ đồng. Dữ liệu từ các địa phương đã phản ánh rõ nhu cầu tiêu dùng lớn của các "đầu tàu" kinh tế TP HCM, Hà Nội, hay một số trung tâm công nghiệp - du lịch lớn như Đà Nẵng, Đồng Nai, Hải Phòng,...

QUẢNG CÁO
QUẢNG CÁO