Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn. (Ảnh: quochoi.vn).
Sáng ngày 2/11, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đã giải trình trước Quốc hội về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, theo Cổng TTĐT Quốc hội.
Nhiều đại biểu đặt vấn đề vì sao Luật Đầu tư phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần (đến nay đã trải qua 16 lần). Theo Bộ trưởng, trước đây việc sửa đổi Luật chủ yếu tập trung vào cắt giảm điều kiện, thủ tục đầu tư, kinh doanh. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh mà còn phải khơi thông các nguồn lực, huy động vốn đầu tư phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Mục tiêu quan trọng của Luật Đầu tư là thu hút vốn và khơi thông nguồn lực để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng trong từng thời kỳ. Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong giai đoạn tới, nhu cầu vốn đầu tư là rất lớn.
Theo tính toán được Bộ trưởng nêu, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần tăng khoảng 2,21 lần so với giai đoạn 2021 - 2025. Riêng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam cần thu hút bình quân khoảng 30 - 40 tỷ USD vốn giải ngân mỗi năm, không phải vốn đăng ký.
Bên cạnh yêu cầu tăng trưởng, việc sửa đổi Luật còn nhằm kịp thời thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), đáp ứng những yêu cầu mới về thu hút đầu tư, sử dụng nguồn lực đất đai và quy hoạch không gian phát triển.
Một lý do khác là cạnh tranh thu hút đầu tư trong khu vực và trên thế giới đang diễn ra gay gắt. Bộ trưởng dẫn chứng, Philippines, Malaysia cũng như nhiều quốc gia đang triển khai các cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư vào những lĩnh vực tương đồng với Việt Nam. Ngoài khu vực, Ấn Độ cũng đang đẩy mạnh thu hút đầu tư thông qua các chính sách hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp sản xuất.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam phải tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư và hoàn thiện chính sách ưu đãi để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Liên quan đến chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt, dự thảo hướng đến thu hút đầu tư vào những ngành, nghề, lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, bên cạnh quy mô vốn, thời gian và lĩnh vực ưu đãi, yêu cầu quan trọng là nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, gắn hoạt động của doanh nghiệp FDI với phát triển sản xuất trong nước.
Cần có những tiêu chí để thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị của doanh nghiệp nước ngoài, nâng cao giá trị gia tăng và tác động lan tỏa của các dự án đầu tư đối với nền kinh tế.
Tiếp thu ý kiến của nhiều đại biểu về cơ chế kiểm soát chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt, cơ quan soạn thảo sẽ hoàn thiện các quy định theo hướng "việc hỗ trợ đầu tư phải gắn với kết quả đầu ra", có thể kiểm tra, giám sát và lượng hóa được. Phải quy định rõ các điều kiện chấm dứt ưu đãi, hỗ trợ trong trường hợp nhà đầu tư không đáp ứng yêu cầu, điều kiện hoặc không thực hiện đúng cam kết.
Theo Bộ trưởng, đây là vấn đề cần được quy định chặt chẽ ngay trong quá trình xây dựng chính sách, nhằm bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực hỗ trợ đầu tư, hạn chế phát sinh tranh chấp, khiếu kiện. Khi nhà đầu tư đã được hưởng ưu đãi nhưng không đáp ứng các điều kiện cam kết, nếu thiếu cơ chế xử lý rõ ràng sẽ rất khó khăn trong quá trình thực hiện. Đặc biệt, các tranh chấp đầu tư quốc tế thường hết sức phức tạp.
Cơ quan soạn thảo sẽ hoàn thiện quy định về điều kiện hưởng ưu đãi, tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện, cơ chế kiểm tra, giám sát và chấm dứt, thu hồi ưu đãi đối với các trường hợp vi phạm cam kết.
Ngoài ra, Quỹ Hỗ trợ đầu tư đã được triển khai và bước đầu hoạt động ổn định, hiệu quả. Việc xây dựng dự toán được thực hiện hằng năm theo quy trình ngân sách nhà nước; Chính phủ quyết định mức hỗ trợ tổng thể, địa phương quyết định hỗ trợ và cơ quan quản lý Quỹ cấp kinh phí.
Để bảo đảm việc quản lý, sử dụng nguồn lực hỗ trợ đầu tư chặt chẽ, minh bạch và hiệu quả, Bộ trưởng đề nghị bổ sung quy định thực hiện kiểm toán nhà nước hằng năm đối với hoạt động của Quỹ Hỗ trợ đầu tư, tổ chức thanh tra định kỳ. Việc này nhằm bảo đảm các khoản hỗ trợ được sử dụng đúng đối tượng, đúng điều kiện, quy trình, mang lại hiệu quả.
(Ảnh minh hoạ: Hoàng Huy).
Phát biểu kết luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; thực hiện nghiêm các quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật.
Việc hoàn thiện dự thảo phải bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật, nhất là các quy định về đất đai, đấu thầu, ngân sách nhà nước, thuế; tránh chồng chéo, mâu thuẫn hoặc tạo khoảng trống pháp lý.
Cùng với đó, cần bảo đảm tính khả thi, ổn định của chính sách; rà soát kỹ các quy định chuyển tiếp và thời điểm có hiệu lực thi hành.
Về nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định theo hướng bảo đảm đúng thẩm quyền, không làm thay đổi hoặc hạn chế hiệu lực các quy định thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Dự thảo cần quy định rõ nguyên tắc, lộ trình thực hiện trên cơ sở đánh giá đầy đủ tác động, nhất là đối với các ngành, lĩnh vực nhạy cảm, bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh.
Về việc lựa chọn nhà đầu tư tại các dự án có sử dụng khu vực biển, Phó Chủ tịch Quốc hội yêu cầu rà soát, quy định chặt chẽ; xác định rõ ngay trong Luật phạm vi, tiêu chí, nguyên tắc áp dụng đối với các trường hợp chấp thuận nhà đầu tư không thông qua đấu giá, đấu thầu. Hạn chế việc dẫn chiếu, mở rộng các trường hợp ngoại lệ tại văn bản quy định chi tiết, bảo đảm thống nhất với pháp luật về đấu thầu, tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Đối với chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt, cần xác định rõ ngay trong Luật các nguyên tắc, tiêu chí và điều kiện áp dụng, nhất là tiêu chí về tác động lan tỏa, tạo động lực phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Phó Chủ tịch Quốc hội yêu cầu làm rõ cơ chế gắn ưu đãi, hỗ trợ đầu tư với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư. Qua đó nâng cao hiệu quả chính sách, bảo đảm nguồn lực hỗ trợ được sử dụng đúng mục tiêu.
Liên quan đến cơ chế hỗ trợ đầu tư của địa phương, cần xác định rõ phạm vi, giới hạn thẩm quyền của HĐND cấp tỉnh, bảo đảm thống nhất với chính sách chung, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Bên cạnh đó, tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi, phát triển khu công nghiệp sinh thái; làm rõ điều kiện hưởng ưu đãi, cơ chế kiểm tra, giám sát.
Mối quan hệ hai chiều giữa Thế Giới Di Động và các nhà cung cấp, sản xuất được thể hiện rõ trong báo cáo tài chính mới công bố gần đây.
Thu nhập không phải là nguồn thu duy nhất tại MWG của các lãnh đạo cấp cao. Ngoài ra, doanh nghiệp còn có các chương trình như ESOP với giá trị hàng trăm tỷ đồng mà mỗi cá nhân có thể nhận được.
Từ những lô đất chỉ có giá trị khi một tuyến đường hình thành, đến tài sản không thể khai thác cho thuê hay sử dụng để ở, chiến lược mua bất động sản rồi chờ tăng giá đang bộc lộ nhiều rủi ro. Theo các chuyên gia, nhà đầu tư không thể chỉ nhìn vào kỳ vọng tăng giá mà phải tính đến khả năng sử dụng, tạo dòng tiền và cả kịch bản xấu nhất khi hạ tầng, quy hoạch không diễn ra như dự kiến.
Tài xế Green SM tại Mỹ phải qua các vòng tuyển chọn khắt khe.